RSS

DI CHÚC VĂN

遺囑文

      Nguyễn Khuyến

NGUỒN: Tam Nguyên Yên Đỗ Thi Ca, trang 11a-12a

我年値八八Ngã niên trị bát bát
𢼂逢九九Ngã số phùng cửu cửu
嗟哉我
Ta tai ngã đức lương
壽紀邁先考
Thọ kỷ mại tiên khảo
嗟哉我
Ta tai ngã học thiển
魁然占
Khôi nhiên chiêm long thủ
豈非先考
 Khởi phi tiên khảo linh
留以錫
Lưu dĩ tích ngã phụ
豈非先考名
Khởi phi tiên khảo danh
不做以留後
Bất tố dĩ lưu hậu
平日寸功
Bình nhật vô thốn công
俯仰已慚負
Phủ ngưỡng dĩ tàm phụ
足矣亦何求
Túc hĩ diệc hà cầu
󰏊勿淹久Tử táng vật yêm cửu
死幸得全歸
Tử hạnh đắc toàn quy
󰏊幸得親附Táng hạnh đắc thân phụ
不可美Quan khâm bất khả mỹ
只以斂足手
Chỉ dĩ liễm túc thủ
具饌不可豊
Cụ soạn bất khả phong
只以答奔走
Chỉ dĩ đáp bôn tẩu
不可寫祝文
Bất khả tả chúc văn
不可為對句
Bất khả vi đối cú
不可設銘旌
Bất khả thiết minh tinh
不可題神主
Bất khả đề thần chủ
不可達門生
Bất khả đạt môn sinh
不可訃僚友
Bất khả phó liêu hữu
賓客不可招
Tân khách bất khả chiêu
賻吊不可受
Phụ điếu bất khả thụ
此皆
於生Thử giai lụy ư sinh
死者亦奚有
Tử giả diệc hề hữu
以重吾過Duy dĩ trọng ngô quá
囂然眾多口
Hiêu nhiên chúng đa khẩu
惟於
󰏊之日Duy ư táng chi nhật
旗扁導前柩
Kỳ biển đạo tiền cữu
竽工八九人
Vu công bát cửu nhân
吹送列左右
Xuy tống liệt tả hữu
草草死
󰏊Thảo thảo tử táng hoàn

我以杯酒Lỗi ngã dĩ bôi tửu

所得新敕憑Sở đắc tân sắc bằng

封還納使府Phong hoàn nạp sử phủ
爰題
石碑Viên đề mộ thạch bi
皇阮故休叟
Hoàng Nguyễn cố hưu tẩu

                 

HỌC CHỮ:

trị = đánh giá, đáng giá

八八bát bát : 88 hay 64 theo cửu chương (八八六四)

Tác giả thọ 74, làm bài di chúc trước khi qua đời,

nên không đoán đúng tuổi thọ.

         我年八八Ngã niên bát bát = tuổi ta được tám mươi tám

𢼂số, sổ = đếm số, dị dạng của chữ  

𢼂số phùng : sổ là đếm; phùng là gặp; sổ phùng là đếm gặp

九九cửu cửu = 81 theo cửu chương (九九八一);

      Kinh Dịch lấy số (cửu) đặt tên hào Dương, lấy số (lục) đặt tên hào Âm.  

我𢼂逢九九Ngã số phùng cửu cửu = số ta gặp vận dương cửu, tức tận số bởi số 99  100 [莊子曰人生上壽百年 Trang Tử rằng người sống thượng thọ 100 năm].  

嗟哉ta tai = than ôi

đức lương : đức, dị dạng của chữ 德;

                       凉lương là mong manh; đức lương là đức bạc.

壽紀 thọ kỷ = tuổi thọ

mại = quá hơn

先考tiên khảo : tiên là trước; khảo là cha đã chết.  

            壽紀邁先考Thọ kỷ mại tiên khảo = tuổi thọ hơn cha.

học thiển : học, dị dạng của chữ 學;  thiển là nông cạn;

học thiển là ít học.

            嗟哉我Ta tai ngã học thiển = than ôi ta ít học.

魁然khôi nhiên : khôi là đỗ đầu; nhiên là như thế;

      魁然khôi nhiên là thế mà đỗ đầu

chiếm long thủ: chiếm là đoạt lấy; 竜, dị dạng của chữ long

       là rồng; thủ là đầu;  long thủ là đầu rồng;  

      chiếm long thủ = tên đứng đầu bảng rồng.

            魁然占Khôi nhiên chiêm long thủ = nghiễm nhiên đậu đầu bảng.

豈非先考 Khởi phi tiên khảo linh:

khởi  = há

豈非khởi phi =  há chẳng phải

先考名tiên khảo danh = công danh của cha

豈非先考名Khởi phi tiên khảo danh = há chẳng phải danh của cha ta

留以錫lưu dĩ tích: lưu lại cho
         留以錫Lưu dĩ tích ngã phụ = cha dành lại cho ta
不做以留後
Bất tố dĩ lưu hậu:

         做tố = làm, thành đạt
     
留後lưu hậu = lưu lại đời sau

      不做以留後Bất tố dĩ lưu hậu = không thành đạt để lại cho ta.

平日bình nhật = cả đời
寸功
vô thốn công:  vô = không, dị dạng của chữ ;

       寸功thốn công = chút công

      平日寸功Bình nhật vô thốn công = cả đời chẳng có chút công nào
俯仰已慚負
Phủ ngưỡng dĩ tàm phụ:

俯仰phủ ngưỡng = cúi ngữa

dĩ = thôi

慚負tàm phụ:  tàm là hỗ thẹn; phụ là nhờ cậy; 

俯仰已慚負Phủ ngưỡng dĩ tàm phụ = cúi xuống nhìn lên, lấy làm hỗ thẹn

足矣亦何求Túc hĩ diệc hà cầu:

足矣túc hĩ:  túc là dủ ; hĩ  là vậy, trợ ngữ:  足矣túc hĩ là vậy là đủ rồi

亦何求diệc hà cầu: diệc là cũng, trợ ngữ ; hà là sao, gì; 何求hà cầu là còn mong gì nữa

足矣亦何求Túc hĩ diệc hà cầu = vậy là đủ rồi, cũng chẳng mong gì hơn nữa.

󰏊勿淹久Tử táng vật yêm cửu:

vật là chớ ; 淹久yêm cửu là để lâu; 󰏊  hay  táng là lễ tang

󰏊勿淹久Tử táng vật yêm cửu = chết thì để tang, chôn, đừng để lâu

死幸得全歸Tử hạnh đắc toàn quy:

hạnh là may, có phước có phần;

得全歸đắc toàn quy: quy là về;

生記死歸sanh ký tử quy là sống gởi, thác về

死幸得全歸Tử hạnh đắc toàn quy = chết ,may được toàn vẹn mà về.

󰏊幸得親附Táng hạnh đắc thân phụ:

 thân là cha mẹ; phụ là nương cậy, bám theo;
󰏊幸得親附Táng hạnh đắc thân phụ = may mắn được chôn gần cha mẹ.

不可美Quan khâm bất khả mỹ:

quan khâm  là áo quan, cái hòm;

不可美bất khả mỹ là không nên đẹp;

不可美Quan khâm bất khả mỹ = quan tài khâm liệm không cần đẹp;

[kinh nghiệm bản thân: Lúc khâm liệm, an táng cha mẹ, lo áo quan cùng mồ mả cho được tươm tất. Đến khi cộng sản Bắc kỳ cưỡng chiếm miền Nam, bọn cùng căn mạt kiếp, dép râu, nón tai bèo, tháo gở mồ mả, đào lấy quan tài, mộ bia cũng mang đi, chỉ bỏ lại xương cốt]

只以斂足手Chỉ dĩ liễm túc thủ:

liễm là thu góp lại;

只以斂足手Chỉ dĩ liễm túc thủ = chỉ đủ gói kín chân tay.

具饌不可豊Cụ soạn bất khả phong:
     具饌cụ soạn là cỗ bàn; phong là hậu hĩ;

   具饌不可豊Cụ soạn bất khả phong = cỗ bàn không nên quá sang trọng.

只以答奔走Chỉ dĩ đáp bôn tẩu:

     奔走bôn tẩu là chạy vội;
     只以答奔走Chỉ dĩ đáp bôn tẩu = chỉ đủ thết đãi người chạy việc.
不可寫祝文
Bất khả tả chúc văn = chẳng nên viết điếu văn.
不可為對句
Bất khả vi đối cú = chẳng nên  làm câu đối [sanh tiền, Cụ thường làm phúng đối, nhạo báng người quá cố, nay sợ người trả lễ chăng?]

不可設銘旌Bất khả thiết minh tinh:

thiết  là sắp đặt;

銘旌minh tinh:  một mảnh lụa, vải hoặc giấy, đề tên hiệu, tên thụy, tuổi và chức tước, địa vị người chết để rước trong khi đưa đám. Khi mai táng xong thì đốt cùng nhà táng. Có khi buộc vào cây nêu gọi là cây triệu. [2]

不可設銘旌 Bất khả thiết minh tinh = chẳng nên làm  giá triệu.

不可題神主Bất khả đề thần chủ: 神主thần chủ là thẻ gỗ đề tên, ngày sanh, ngày tử của người chết để thờ;

     不可題神主Bất khả đề thần chủ = chẳng nên làm thẻ để thờ.
不可達門生
Bất khả đạt môn sinh = chẳng nên làm giấy báo học trò.
不可訃僚友
Bất khả phó liêu hữu = chẳng nên cáo phó với bè bạn đồng liêu.
賓客不可招
Tân khách bất khả chiêu = chẳng nên mời khách khứa
賻吊不可受
Phụ điếu bất khả thụ = chẳng nên nhận lấy phúng viếng 

[sau nầy, thường thấy cáo phó ghi: xin miễn phúng điếu, có ý là không nhận    tiền bạc, các món phúng viếng khác như mâm hoa quả thì khó từ chối]

此皆於生Thử giai lụy ư sinh = những điều đó chỉ phiền lụy người sống

死者亦奚有Tử giả diệc hề hữu = người chết cũng chẳng được gì.

以重吾過Duy dĩ trọng ngô quá = chỉ làm tội ta nặng hơn.
囂然眾多口
Hiêu nhiên chúng đa khẩu = ồn ào thêm nhiều miệng tiếng.
惟於
󰏊之日Duy ư táng chi nhật = duy chỉ ngày chôn cất
旗扁導前柩
Kỳ biển đạo tiền cữu = cờ biển đi trước áo quan.
竽工八九人
Vu công bát cửu nhân = tám chín người thợ kèn
吹送列左右
Xuy tống liệt tả hữu = thổi kèn đưa tiễn hai bên.
草草死
󰏊Thảo thảo tử táng hoàn = chôn cất qua loa cho xong.
酹我以杯酒
Lỗi ngã dĩ bôi tửu

            lỗi là rót rượu xuống đất để tế lễ; bản in khắc sai ra chữ đồng âm 𩔖.

      我以杯酒Lỗi ngã dĩ bôi tửu = rót xuống đất cho ta chén rượu.

*Bản in thiếu 2 câu sau: [2]

所得新敕憑Sở đắc tân sắc bằng = bằng sắc mới được ban.

 封還納使府Phong hoàn nạp Sử phủ = gói nộp lại dinh quan Sử.

爰題石碑Viên đề mộ thạch bi

         viên là bèn;

      爰題石碑Viên đề mộ thạch bi = Rồi đề bia đá ở mộ rằng

皇阮故休叟Hoàng Nguyễn cố hưu tẩu:

tẩu là ông già;

皇阮故休叟Hoàng Nguyễn cố hưu tẩu = ông già triều Nguyễn về hưu đã lâu.

TRÍCH THƯ MỤC:

[1] Tam Nguyên Yên Đổ Thi Ca 三元閼堵詩歌, 柳文堂藏板, 唘定新刊 (1926).

[2] Thi Hào NGUYỄN KHUYẾN đời và thơ. Nguyễn Huệ Chi Chủ biên. Hanoi: Viện Văn Học. 1994.

[3]  Nguyễn Khuyến: http://vi.wikisource.org/wiki/ T%C3%A1c_gia:Nguy%E1%BB%85n_Khuy%E1%BA%BFn

[4]  Hán Việt Tự Điển Thiều Chửu. Đặng Thế Kiệt khởi thảo Bản Điện Tử (2003);

      Phụ soạn: Lê Văn Đặng, Nguyễn Hữu Vinh;

      Kỹ thuật: Nguyễn Doãn Vượng.

[5]  Hán Việt Tự Ðiển Trích Dẫn (bản điện tử). Đặng Thế Kiệt soạn (2006-2012).

       http://vietnamtudien.org/hanviet/

[6]  Chú Thích Hán Việt. Frank Phạm soạn (2011):

       http://www.petrus-tvk.com/ChuThich.html 

     Lê Văn Đng

trong nhóm han-nom.org

Tháng 6, năm 2012

   

 
Để lại bình luận

Posted by on 22 Tháng Một, 2015 in Khác

 

Học chữ Hán – Lê Anh Minh

1 .Số đếm và số thứ tự trong Hán ngữ cổ đại 

Về cơ bản, cách sử dụng số đếm và số thứ tự không khác nhau lắm giữa Hán ngữ cổ đại và Hán ngữ hiện đại.

Số đếm gắn thêm chữ đệ 第 thì thành số thứ tự. Thí dụ: nhất  là một, đệ nhất 第 一 là thứ nhất; thập 十 là 10, đệ thập 第 十 là thứ 10. Vì vậy ở đây chúng ta chỉ cần tập trung vào số đếm trong Hán ngữ cổ đại.

Các số cơ bản là:

1 nhất

2 nhị  (lưỡng 兩 )

3 tam 三

4 tứ 四

5 ngũ 五

6 lục 六

7 thất 七

8 bát 八

9 cửu 九

10 thập 十

100 bách 百

1000 thiên 千

10.000 vạn 萬

100.000 ức 億 (= thập vạn 十 萬 )

1.000.000 triệu 兆 (= bách vạn 百 萬 )

1.000.000.000 tỷ 秭 (= ức vạn 億 萬 )

 

11 thập nhất 十 一

12 thập nhị 十 二  

13 thập tam 十 三  

14 thập tứ 十 四  

15 thập ngũ 十 五  

16 thập lục 十 六  

17 thập thất 十 七  

18 thập bát 十 八  

19 thập cửu 十 九  

20 nhị thập 二 十  

21 nhị thập nhất 二 十 一  

22 nhị thập nhị 二 十 二  

23 nhị thập tam 二 十 三  

24 nhị thập tứ 二 十 四  

25 nhị thập ngũ 二 十 五  

26 nhị thập lục 二 十 六  

27 nhị thập thất 二 十 七  

28 nhị thập bát 二 十 八  

29 nhị thập cửu 二 十 九  

30 tam thập 三 十  

40 tứ thập 四 十  

50 ngũ thập 五 十  

60 lục thập 六 十  

70 thất thập 七 十  

80 bát thập 八 十  

90 cửu thập 九 十  

100 nhất bách 一 百  

200 nhị bách 二 百  

300 tam bách 三 百  

400 tứ bách 四 百  

500 ngũ bách 五 百  

600 lục bách 六 百  

700 thất bách 七 百  

800 bát bách 八 百  

900 cửu bách 九 百  

1000 nhất thiên  一 千    

10.000 nhất vạn  一 萬    

30.000 tam vạn  三 萬  

500.000 ngũ thập vạn  五 十 萬    

●   3.000.000 tam bách vạn  三 百 萬    …

 

● Qui tắc:

58 (= 50 + 8) ngũ thập bát 五 十 八

109 (= 100 + 9) nhất bách cửu 一 百 九  

918 (= 900 + 18) cửu bách thập bát 九 百十 八

2530 (=2000 + 500 + 30) nhị thiên ngũ bách tam thập 二 千 五 百 三 十

10.594 (= 10.000 + 594) nhất vạn ngũ bách cửu thập tứ 一 萬 五 百 九 十 四

200.357 (= 20×10.000 + 357) nhị thập vạn tam bách ngũ thập thất 二 十 萬 三 百 五 十 七

 

● Diễn tả con số phỏng chừng:

Thả 且 , tương 將 , khả 可 , sổ  數 đứng trước con số; dư 餘 , hứa 許 , sở 所 , tả hữu 左 右 … đứng sau con số.

– thả tam niên 且 三 年 : khoảng 3 năm.

– niên thả cửu thập 年 且 九 十 : tuổi gần 90.

– tương ngũ thập lý 將 五 十 里 : gần 50 dặm.

– trường khả thập trượng 長 可 十 丈 : dài khoảng 10 trượng.

– sổ thập vạn nhân 數 十 萬 人 : vài chục vạn người.

– tam thập thất dư nhân 三 十 七 餘 人 : hơn 37 người.

– tam thập thất hứa nhân 三 十 七 許 人 : khoảng 37 người.

– tam thập thất nhân sở 三 十 七 人 所 : khoảng 37 người.

– tam thập niên tả hữu 三 十 年 左 右 : khoảng 30 năm.

 

● Diễn tả phân số: mẫu số + phân + chi + tử số :

– ½ bán 半 : phân nửa.

– 3/10 thập phân chi tam 十 分 之 三 : 3 phần 10.

 

Tập viết cổ văn:

1. Viết các số sau: 14 ; 20 ; 85 ; 709 ; 999 ; 1.034 ; 1.604 ; 10.586 ; 300.213 .

2. khoảng 15 năm.

3. tuổi gần 65.

4. gần 100 dặm.

5. dài khoảng 8 trượng.

6. vài trăm năm.

7. hơn 96 người.

8. khoảng 300 người.

9. người thứ ba.

10. thứ 1001.

11. bảy chục phần trăm.

Số đếm và số thứ tự trong Hán ngữ cổ đại

Đáp án tập viết cổ văn

 

1. Viết số:

14 : 十 四 thập tứ.

20 : 二 十 nhị thập.

85 : 八 十 五 bát thập ngũ.

709 : 七 百 九  thất bách cửu.

999 : 九 百 九 十 九 cửu bách cửu thập cửu.

1.034 : 一 千 三 十 四 nhất thiên tam thập tứ.

1.604 :  一 千 六 百 四 nhất thiên lục bách tứ.

10.586 :  一 萬 五 百 八 十 六 nhất vạn ngũ bách bát thập lục.

300.213 : 三 十 萬 二 百 十 三 tam thập vạn nhị bách thập tam.

2. khoảng 15 năm.

– 且 十 五 年 thả thập ngũ niên.

3. tuổi gần 65.

– 年 且 六 十 五 niên thả lục thập ngũ.

4. gần 100 dặm.

– 將 一 百 里 tương nhất bách lý.

5. dài khoảng 8 trượng.

– 長 可 八 丈 trường khả bát trượng.

6. vài trăm năm.

– 數 百 年 sổ bách niên.

7. hơn 96 người.

– 九 十 六 餘 人 cửu thập lục dư nhân.

8. khoảng 300 người.

– 三 百 許 人 tam bách hứa nhân.

– 三 百 人 所 tam bách nhân sở.

– 三 百 人 左 右 tam bách nhân tả hữu.

9. người thứ ba.

– 第 三 人 đệ tam nhân.

10. thứ 1001.

– 第 一 千 ( 有 ) 一 đệ nhất thiên (hữu) nhất.

11. bảy chục phần trăm.

– 百 分 之 七 十 bách phân chi thất thập.

Chú ý: Đối với người mới học, phần trên đây cũng đủ. Nhưng trong suốt khóa học, những điểm dưới đây cần được tham khảo thêm:

 

● Hán cổ đại gọi 10 vạn (= 100.000) là một ức 億 ; Hán hiện đại gọi vạn vạn 萬 萬 (một trăm triệu: 100.000.000) là một ức 億 .

● Hán cổ đại không dùng linh 零 làm số; Hán hiện đại có dùng nó với ý là «lẻ, linh». Thí dụ: 108 (một trăm lẻ tám; một trăm linh tám) thì Hán cổ đại nói nhất bách bát 一 百 八 , còn Hán hiện đại nói nhất bách linh bát 一 百 零 八 .

● Hán cổ đại có khi dùng hữu 有 (hay hựu 又) để nói ý «lẻ, linh». Thí dụ: 108 = nhất bách bát 一 百 八 = nhất bách hữu bát 一 百 有 八 = nhất bách hựu bát 一 百 又 八 .

● Nói chung, hữu 有 (hay hựu 又) có thể đặt sau hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn. Thí dụ:

– ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học 吾 十 有 五 而 志 於 學 : Ta 15 tuổi lập chí ở việc học.

– bách hữu nhị thập lý 百 有 二 十 里 : 120 dặm.

● Đôi khi không có chữ đệ 第 mà vẫn hiểu là số thứ tự: Thí dụ:

– Tần Chiêu Vương tứ thập bát niên 秦 昭 王 四 十 八 年 : năm thứ 48 đời Tần Chiêu Vương.

● Nói chung, trong Hán cổ đại, số có thể đứng trước hoặc sau danh từ, còn trong Hán hiện đại thì số luôn đứng trước danh từ. Thí dụ:

– thập cửu niên 十 九 年 : 19 năm.

– xa lục 車 六 : 6 chiếc xe (Hán hiện đại: lục lượng xa 六 輛 車 ).

● Số có thể đi kèm với lượng từ 量 詞 (giống như tiếng Việt nói: cái, con, chiếc, …) nhưng trật tự của chúng khác nhau giữa Hán cổ đại và Hán hiện đại.

– Hán cổ đại: danh từ + số + lượng từ. Thí dụ: xa lục thặng 車 六 乘 : 6 chiếc xe.

– Hán hiện đại: số + lượng từ + danh từ. Thí dụ: lục lượng xa 六 輛 車 : 6 chiếc xe.

● Hán cổ đại có khi không cần lượng từ, chẳng hạn xa lục thặng 車 六 乘 (6 chiếc xe) có thể viết là xa lục 車 六 hay lục xa 六 車 .

● Các con số như 3 , 9 , 10 , 12 , 18 , 36 , 72 , 100 (bách 百 ), 1000 (thiên 千 ), 10000 (vạn 萬 ) còn có thể diễn tả con số đại khái, chứ không chính xác là con số ấy.

– Vũ bát niên ư ngoại, tam quá kỳ môn nhi bất nhập 禹 八 年 於 外 三 過 其 門 而 不 入 : Ông Vũ ở bên ngoài [lo trị thuỷ] nhiều lần đi ngang qua cửa nhà mình mà không vào.

– Vạn thế sư biểu 萬 世 師 表 : khuôn mẫu cho muôn đời noi theo. (biểu 表 : khuôn mẫu, mẫu mực; sư 師 danh từ là «thầy», động từ là «bắt chước, noi theo»)

– thập sinh cửu tử 十 生 九 死 : thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

– bách chiến bách thắng 百 戰 百 勝 : hễ đánh là thắng (nghĩa đen: đánh trăm trận trăm thắng)

– thiên kim 千 金 : rất quý báu, rất sang (nghĩa đen: ngàn vàng).

  • Người Trung Quốc xem số 9 là số hên vì 9 là cửu 九 khi phát âm theo giọng Trung Quốc thì nó đồng âm với chữ cửu 久 (lâu dài). Họ không xem 13 là số xui, mà xem 14 là số xui, vì thập tứ 十 四 phát âm gần giống thập tử 十 死 . Các phòng khách sạn hay phòng bệnh viện mang số 14 bị kiêng vì ý nghĩa «thập tử nhất sinh» 十 死 一 生 (mười phần chết, chỉ một phần sống).

2. Cát hung 吉 凶

有 鴉 集 庭 樹。引 頸 而 鳴。兒 叱 之。父 曰。是 何 害。兒 曰。常 聞 人 言。鵲 鳴 吉。鴉 鳴 凶。今 鳴 者 鴉 也。故 叱 之。父 曰。人 之 智 識。遠 勝 於 鳥。尚 不 能 預 知 吉 凶。而 況 鳥 乎。

 

Phiên âm:

Hữu nha tập đình thụ, dẫn cảnh nhi minh. Nhi sất chi. Phụ viết: «Thị hà hại?» Nhi viết: «Thường văn nhân ngôn: “Thước minh cát, nha minh hung.” Kim minh giả nha dã. Cố sất chi.» Phụ viết: «Nhân chi trí thức, viễn thắng ư điểu. Thượng bất năng dự tri cát hung, nhi huống điểu hồ?»

 

Từ ngữ:

(1) 吉 cát: may mắn, hên, tốt. (2) 凶 hung: rủi ro, xui, xấu. (3) 有 hữu: có (tồn tại / sở hữu).  (4) 鴉 nha: con quạ. (5) 集 tập: tụ tập; gom lại. (6) 庭 đình: cái sân; nhà lớn. (7) 樹 thụ: cây. (8) 引 dẫn: kéo đi; dẫn dắt; rướn. (9) 頸 cảnh: cổ. (10) 而 nhi: nhưng, mà, và; hư từ. (11) 鳴 minh: kêu la; hót; hí; tiếng kêu. (12) 兒 nhi: đứa trẻ. (13) 叱 sất: quát lên. (14) 之 chi: nó; hư từ. (15) 父 phụ: cha ( 母 mẫu: mẹ). (16) 曰 viết: nói; hỏi; đáp. (17) 是 thị: là; nó; đúng. (18) 何 hà: cái gì? tại sao? thế nào? (19) 害 hại: hại; làm hại. (20) 常 thường: thông thường; luôn. (21) 聞 văn: nghe. (22) 人 nhân: người. (23) 言ngôn: nói; lời nói; ngôn ngữ. (24) 鵲 thước: chim khách (điềm hên). (25) 今 kim: [ngày] nay ( 古 cổ: xưa). (26) 者 giả: (động từ + giả: kẻ làm…) (27) 也 dã: vậy (hư từ ở cuối câu). (28) 故 cố: cho nên; nguyên do. (29) 智 trí: trí tuệ; khôn ngoan. (30) 識 thức: hiểu biết. (31) 智 識 trí thức: hiểu biết, trí khôn. (32) 遠 viễn: xa xôi ( 近 cận: gần). (33) 勝 thắng: vượt hơn; chiến thắng. (34) 於 ư: (hư từ). (35) 鳥 điểu: chim. (36) 尚 thượng: vẫn còn; xem trọng. (37) 不 bất: không. (38) năng: có thể. (39) 預 dự: dự liệu; sẵn. (40) 知 tri: biết. (41) 預 知 dự tri: dự đoán, biết trước. (42) 況 huống: (hư từ); tình huống. (43) 而 況 nhi huống: huống chi, huống hồ. (44) 乎 hồ: (hư từ).

 

Ngữ pháp:

1. hữu 有: diễn tả sự tồn tại (có ai, có cái gì) hay sự sở hữu (ai có cái gì, ai sở hữu cái gì).

2. đình thụ 庭 樹 : cái cây ở trong sân. – tập đình thụ 集 庭 樹 : tụ tập ở cây trong sân.

3. dẫn cảnh nhi minh 引 頸 而 鳴 : rướn cổ [mà] kêu vang. Tương tự:

– bối lý nhi hành 背 理 而 行 : hành động trái lý lẽ; làm quấy.

– bất tư nhi đắc 不 思 而 得 : không cần suy tính mà vẫn có được nó.

4. nhi sất chi 兒 叱 之 : đứa trẻ quát chúng.– Chữ chi ở đây là đại từ (nó, chúng nó, anh ta, ông ta, người đó, cái ấy, điều ấy…) làm tân ngữ (object) cho động từ sất.

5. minh giả 鳴 者 : con [chim] kêu. – Cấu trúc «động từ+giả» diễn tả người hay vật làm cái gì. Thí dụ: tác giả 作 者 (người làm, người sáng tác), dịch giả 譯 者 (người phiên dịch).

– tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri 知 者 不 言 言 者 不 知 : người biết thì không nói, người nói thì không biết.

– tri chi giả bất như hiếu chi giả 知 之 者 不 如 好 之 者 : kẻ biết nó thì chẳng bằng kẻ thích nó. – Chữ 好 tính từ thì đọc là hảo (tốt), động từ thì đọc là hiếu (ưa thích).

– hữu đức giả tất hữu ngôn, hữu ngôn giả bất tất hữu đức 有 德 者 必 有 言 , 有 言 者 不 必 有 德 : người có đạo đức ắt có lời nói [tốt đẹp], kẻ có lời nói [tốt đẹp] chưa chắc có đạo đức.

6. Cấu trúc «…giả … dã» … 者 … 也 giải thích về người hay sự vật.– minh giả nha dã 鳴 者 鴉 也 : con [chim] kêu là con quạ. Tương tự:

– nhân giả nhân dã 仁 者 人 也 : kẻ nhân ái [mới] là người.

– Tuân Khanh giả Triệu nhân dã 荀 卿 (者 ) 趙 人 ( 也 ): Tuân Khanh là người nước Triệu. (Ta có thể lược bỏ 者hoặc bỏ cả 者 lẫn 也 ).

– sinh ngã giả ngã phụ mẫu dã 生 我 者 我 父 母 也 : đấng sinh ra ta là cha mẹ ta.

7. nhân chi trí thức 人 之 智 識 : sự hiểu biết của con người.– Cấu trúc «định ngữ + chi+ danh từ» tạo thành một cụm danh từ. Tương tự:

– dân chi phụ mẫu 民 之 父 母 : cha mẹ của dân.

– tiểu quốc chi dân 小 國 之 民 : dân của một nước nhỏ.

8. viễn thắng ư điểu 遠 勝 於 鳥 : còn hơn xa cả loài chim. Tương tự:

– mạc đại ư thiên 莫 大 於 天 : chẳng gì lớn hơn trời.

– thuỷ cao ư ngạn 水 高 於 岸 : [mực] nước cao hơn bờ.

9. nhi huống … hồ 而 況 … 乎 : nói chi đến…; huống hồ là…

– tử sinh vô biến ư kỷ, nhi huống lợi hại chi đoan hồ 死 生 無 變 於 己 ,而 況 利 害 之 端 乎 : sống chết còn chẳng làm họ biến đổi, huống hồ đầu mối của lợi và hại.

– thiên địa thượng bất năng cửu, nhi huống ư nhân hồ 天 地 尚 不 能 久 , 而 況 於 人 乎 : trời đất còn không thể dài lâu, huống chi người.

 

Dịch:

HÊN XUI – Có lũ quạ tụ tập trên cây ở trong sân nhà, chúng rướn cổ kêu vang. Đứa trẻ quát chúng. Cha nó nói: «Điều ấy có hại gì đâu?» Nó đáp: «Con thường nghe người ta nói: “Chim khách kêu thì hên, quạ kêu thì xui.” Nay chim kêu là quạ. Nên con quát chúng.» Cha nó nói: «Sự hiểu biết của con người còn vượt xa hơn [sự hiểu biết của] loài chim. Người mà còn chưa thể biết trước được hên xui, huống hồ là loài chim.»

 

Tập viết cổ văn:

1. Quạ kêu trên cây (ư thụ thượng 於 樹 上 ).

2. Đứa trẻ lấy (dĩ 以 ) đá (thạch 石 ) ném (kích 擊 ) nó (= con quạ).

3. Tại sao lấy đá ném quạ?

4. Trí người [thì] cao 高.

5. Trí của chim không cao.

6. Trí người cao hơn trí của chim.

7. Cây cao hơn đứa trẻ.

8. Người [còn] không thể biết (bất năng tri 不 能 知  ) hên xui, [thì] chim làm sao (hà dĩ 何 以 ) mà biết được?

9. Điều mà con người không thể biết là việc lành hay dữ.

10. [Kẻ] quát chim quạ là đứa bé.

11. Người cha biết kẻ ném đá chim quạ là đứa bé.

12. Tiếng kêu của chim khách (thước chi minh 鵲 之 鳴 ) thì hên; tiếng kêu của chim quạ thì xui.

13. Khổng Tử 孔 子  là thánh nhân 聖 人 .

14. Lời nói của thánh nhân thì tốt lành.

15. Liêm Pha 廉 頗 là tướng giỏi (lương tướng 良 將 ) của nước Triệu 趙.

16. Người ta nói quan 官 là cha mẹ của dân.

17. Biết người [thì] biết mặt (diện 面 ) [chứ] không biết lòng (tâm 心 ).

Cát hung  吉 凶

Đáp án tập viết cổ văn

1. Quạ kêu trên cây.

– 鴉 鳴 於 樹 上 nha minh ư thụ thượng.

2. Đứa trẻ lấy đá ném nó (= con quạ).

– 兒 以 石 擊 之 nhi dĩ thạch kích chi.

3. Tại sao lấy đá ném quạ?

– 何 以 石 擊 鴉 ? hà dĩ thạch kích nha?

4. Trí người [thì] cao.

– 人 之 智 高 nhân chi trí cao.

5. Trí của chim không cao.

– 鳥 之 智 不 高 điểu chi trí bất cao.

6. Trí người cao hơn trí của chim.

– 人 之 智 高 於 鳥 之 智 nhân chi trí cao ư điểu chi trí.

7. Cây cao hơn đứa trẻ.

– 樹 高 於 兒 thụ cao ư nhi.

8. Người [còn] không thể biết hên xui, [thì] chim làm sao mà biết được?

– 人 不 能 知 吉 凶 ,鳥 何 以 能 知 之 ? nhân bất năng tri cát hung, điểu hà dĩ năng tri chi?

9. Điều mà con người không thể biết là việc lành hay dữ.

– 人 不 能 知 者 吉 凶 也 nhân bất năng tri giả cát hung dã.

10. [Kẻ] quát chim quạ là đứa bé.

– 叱 鴉 者 兒 也 sất nha giả nhi dã.

11. Người cha biết kẻ ném đá chim quạ là đứa bé.

–  父 知 擊 鴉 者 兒 也 phụ tri kích nha giả nhi dã.

12. Tiếng kêu của chim khách thì hên; tiếng kêu của chim quạ thì xui.

– 鵲 之 鳴 吉 ; 鴉 之 鳴 凶 thước chi minh cát, nha chi minh hung.

13. Khổng Tử là thánh nhân.

– 孔 子 (者 ) 聖 人 也 Khổng Tử (giả) thánh nhân dã.

14. Lời nói của thánh nhân thì tốt lành.

– 聖 人 之 言 吉 thánh nhân chi ngôn cát.

15. Liêm Pha là tướng giỏi của nước Triệu.

– 廉 頗 者 趙 之 良 將 也 Liêm Pha giả Triệu chi lương tướng dã.

16. Người ta nói quan là cha mẹ của dân.

– 人 言 官 者 民 之 父 母 也 nhân ngôn quan giả dân chi phụ mẫu dã.

17. Biết người [thì] biết mặt [chứ] không biết lòng dạ.

  • 知 人 知 面 不 知 心 tri nhân tri diện bất tri tâm.

3. Nhân ảnh 人 影

新 月 初 上。兒 行 廊 下。似 有 一 人 隨 其 後。不 敢 回 顧。急 入 告 姊。姊 曰。此 汝 身 之 影 也。汝 立 燈 前。行 日 下。皆 有 影。何 忘 之 耶。兒 乃 悟。

 

Phiên âm:

Tân nguyệt sơ thướng. Nhi hành lang hạ, tự hữu nhất nhân tuỳ kỳ hậu. Bất cảm hồi cố, cấp nhập cáo tỷ. Tỷ viết: «Thử nhữ thân chi ảnh dã. Nhữ lập đăng tiền, hành nhật hạ, giai hữu ảnh. Hà vong chi da?» Nhi nãi ngộ.

 

Từ ngữ:

(1) 影 ảnh: bóng; ảnh. (2) 新 tân: mới mẻ; vừa mới. (3) 月 nguyệt: mặt trăng; tháng. (4) 初 sơ: bắt đầu, đầu tiên. (5) 上 thướng: đi lên (thượng: ở trên). (6) 行 hành: đi. (7) 廊 lang: hành lang. (8) 下 hạ: ở dưới ( 上 thượng). (9) 似 tự: tương tự, giống như. (10) 隨 tuỳ: đi theo. (11) 其 kỳ: nó; người đó; cái đó. (12) 後 hậu: ở sau ( 前 tiền: ở trước). (13) 其 後 kỳ hậu: ở sau nó. (14) 敢 cảm: dám [làm gì]. (15) 回 hồi: trở lại. (16) 顧 cố: quay lại. (17) 回 顧 hồi cố: nhìn lại. (18) 急 cấp: gấp; khẩn cấp. (19) 入 nhập: đi vào. (20) 告 cáo: nói cho biết. (21) 姊 tỷ: chị. (22) 此 thử: cái này; điều này. (23) 汝 nhữ: ngươi, mầy; của mầy. (24) 身 thân: thân mình, thân thể. (25) 立 lập: đứng; thành lập. (26) 燈 đăng: đèn. (27) 前 tiền: ở trước ( 後 hậu). (28) 日 nhật: mặt trời; ngày. (29) 皆 giai: đều. (30) 忘 vong: quên. (31) 耶 da: (hư từ cuối câu). (32) 乃 nãi: bèn; là. (33) 悟 ngộ: hiểu, giác ngộ.        

 

Ngữ pháp:

1. nhữ thân chi ảnh 汝 身 之 影 : cái bóng của thân em. Tương tự:

– nhữ phụ chi ngôn 汝 父 之 言 : lời của cha ngươi.

2. giai hữu ảnh 皆 有 影 : đều có cái bóng. Tương tự:

– nhân nhân giai tri 人 人 皆 知 : người người đều biết; ai cũng biết.

– lão thiếu giai tại 老 少 皆 在 : người già và người trẻ đều có mặt.

– tứ hải chi nội giai huynh đệ dã 四 海 之 內 皆 兄 弟 也 : [người] trong bốn biển đều là anh em với nhau.

3. nhi nãi ngộ 兒 乃 悟 : đứa trẻ bèn hiểu ra. Tương tự:

– nãi khả 乃 可 : [điều đó] sẽ có thể được.

– bách sự nãi toại 百 事 乃 遂 : trăm việc bèn xong.

Dịch:

BÓNG NGƯỜI – Trăng non vừa lên. Đứa trẻ đi dưới hành lang, [cảm thấy] dường như có một kẻ đi phía sau nó. Nó không dám quay đầu lại, gấp rút chạy vào [nhà] nói cho chị nó biết. Chị nó nói: «Đó là cái bóng của thân em. Em đứng trước đèn [hay] đi dưới ánh nắng, đều có cái bóng [của em]. Sao em lại quên điều đó?» Đứa trẻ bèn hiểu ra.

        

 

Tập viết cổ văn:

1. Trăng sáng (minh nguyệt 明 月 ) vừa lên.

2. Dưới trăng.

3. Có lũ trẻ (quần nhi 群 兒 ) ở dưới [ánh] trăng.

3. Đứa nhỏ đi nhanh dưới [ánh] trăng.

4. Chị nó đứng trước đèn.

5. Chị nó đi theo nó.

6. Đứa bé không biết chị nó gấp rút đi theo nó.

7. Ai cũng có cái bóng theo mình.

8. Lũ trẻ đều biết điều đó

9. Lý lẽ đó (thử lý 此 理 ) ai cũng biết.

10. Ngươi tại sao quên lời cha ngươi?

11. Đứa trẻ không dám quên lời cha nó nói.

12. Tại sao đứa trẻ không dám quên lời cha nó nói?

13. Quạ bắt đầu kêu.

14. Tiếng chim kêu có hên, có xui.

15. Các con kêu trên cây ấy đều là quạ.

16. Cha nó nói: «Ai cũng biết tiếng quạ kêu thì xui, tiếng chim khách kêu thì hên. Tại sao con không biết điều ấy?»

17. Cha đứa bé nói: «Thân con có cái bóng của nó. Con đi, cái bóng đi. Con đứng, cái bóng đứng. Lý lẽ này ai cũng biết.» Đứa bé liền hiểu ra.

Nhân ảnh 人 影

Đáp án tập viết cổ văn

1. Trăng sáng vừa lên.

– 明 月 初 上 minh nguyệt sơ thướng.

2. Dưới trăng.

– (於 ) 月 下 (ư) nguyệt hạ.

3. Có lũ trẻ ở dưới [ánh] trăng.

– 有 群 兒 於 月 下 hữu quần nhi ư nguyệt hạ.

3. Đứa nhỏ đi nhanh dưới [ánh] trăng.

– 兒 急 行 於 月 下 nhi cấp hành ư nguyệt hạ.

4. Chị nó đứng trước đèn.

– 其 姊 立 於 燈 前 kỳ tỷ lập ư đăng tiền.

5. Chị nó đi theo nó.

– 其 姊 隨 之 kỳ tỷ tuỳ chi.

6. Đứa bé không biết chị nó gấp rút đi theo nó.

– 兒 不 知 其 姊 急 隨 之 nhi bất tri kỳ tỷ cấp tuỳ chi (= 隨 其 後 tuỳ kỳ hậu).

7. Ai cũng có cái bóng theo mình.

– 人 皆 有 影 隨 之 nhân giai hữu ảnh tuỳ chi.

8. Lũ trẻ đều biết điều đó.

– 群 兒 皆 知 之 也 quần nhi giai tri chi dã.

9. Lý lẽ đó ai cũng biết.

– 此 理 人 皆 知 也 thử lý nhân giai tri dã.

10. Ngươi tại sao quên lời cha ngươi?

– 何 忘 汝 父 之 言 耶 hà vong nhữ phụ chi ngôn da?

11. Đứa trẻ không dám quên lời cha nó nói.

– 兒 不 敢 忘 其 父 之 言 nhi bất cảm vong kỳ phụ chi ngôn.

12. Tại sao đứa trẻ không dám quên lời cha nó nói?

– 兒 何 不 敢 忘 其 父 之 言 耶 nhi hà bất cảm vong kỳ phụ chi ngôn da.

13. Quạ bắt đầu kêu.

– 鴉 初 鳴 nha sơ minh.

14. Tiếng chim kêu có hên, có xui.

– 鳥 之 鳴 有 吉 有 凶 điểu chi minh hữu cát hữu hung.

15. Các con kêu trên cây ấy đều là quạ.

– 鳴 於 此 樹 上 者 皆 鴉 也 minh ư thử thụ thượng giả giai nha dã.

16. Cha nó nói: Ai cũng biết tiếng quạ kêu thì xui, tiếng chim khách kêu thì hên. Tại sao con không biết điều ấy?

– 其 父 曰 : 人 皆 知 鴉 之 鳴 凶 , 鵲 之 鳴 吉 . 汝 何 以 不 知 之 kỳ phụ viết: nhân giai tri nha chi minh hung, thước chi minh cát. Nhữ hà dĩ bất tri chi?

17. Cha đứa bé nói: «Thân con có cái bóng của nó. Con đi, cái bóng đi. Con đứng, cái bóng đứng. Lý lẽ này ai cũng biết.» Đứa bé liền hiểu ra.

  • 兒 之 父 曰 : 汝 身 有 其 影 . 汝 行 , 其 行 . 汝 立 , 其 立 . 此 理 人 皆 知 也 . 兒 乃 悟 Nhi chi phụ viết: «Nhữ thân hữu kỳ ảnh. Nhữ hành, kỳ hành. Nhữ lập, kỳ lập. Thử lý nhân giai tri dã.» Nhi nãi ngộ.

4.Đa ngôn vô ích 多 言 無 益

或 問 墨 子 曰。言 以 多 為 貴 乎。墨 子 曰。蝦 蟆 日 夜 鳴 而 人 厭 之。雄 雞 一 鳴 天 下 振 動。言 在 當 時 而 已。多 言 何 益。

 

Phiên âm:

Hoặc vấn Mặc Tử viết: «Ngôn dĩ đa vi quý hồ?» Mặc Tử viết: «Hà mô nhật dạ minh nhi nhân yếm chi. Hùng kê nhất minh thiên hạ chấn động. Ngôn tại đáng thời nhi dĩ. Đa ngôn hà ích?»

 

Từ ngữ:

(1) 多 đa: nhiều ( 少 thiểu: ít). (2) 無 vô: không ( 有 hữu: có). (3) 益 ích: ích lợi ( 害 hại: hại). (4) 或 hoặc: hoặc là; có người. (5) 問 vấn: hỏi. (6) 子 tử: ngài; ông thầy; con. (7) 墨 mặc: mực đen. (8) 墨 子 Mặc Tử: tức Mặc Địch 墨 翟 một triết gia Trung Quốc cổ đại chủ trương thuyết Kiêm Ái 兼 愛 . (9) dĩ 以 … vi 為 … : xem… là… (10) 貴 quý: quý báu. (11) 蝦 hà: con tôm. (12) 蝦 蟆 hà mô: ễnh ương. (13) 夜 dạ: đêm ( 日 nhật: ngày). (14) 厭 yếm: ghét; chán ngán. (15) 雄 hùng: trống ( mái); anh hùng. (16) 雞 kê: gà. (17) 天 下 thiên hạ: cõi người ta. (18) 振 chấn: làm lay động; tác động. (19) 動 động: hoạt động ( 靜 tĩnh). (20) 在 tại: ở tại; có mặt. (21) 時 thời: thời gian; thời thế. (22) 當 時 đáng thời: đúng lúc. (23) 已 dĩ: đã rồi. (24) 而 已 nhi dĩ: mà thôi.

 

Ngữ pháp:

1. dĩ 以 … vi 為 … : xem… là. Thí dụ:

– dĩ đa vi quý 以 多 為 貴 : xem nhiều là quý; lấy nhiều làm quý.

– dĩ hoà vi quý 以 和 為 貴 : lấy hoà thuận làm quý.

– đạo dĩ vô tâm vi thể, vong ngôn vi dụng, nhu nhược vi bản, thanh tĩnh vi cơ 道 以 無 心 為 体 , 忘 言 為 用 , 柔 弱 為 本 , 清 靜 為 基 : Đạo lấy vô tâm làm thể, lấy vong ngôn (quên lời) làm dụng, lấy mềm yếu làm gốc, lấy thanh tĩnh làm cơ sở.

 dĩ vi 以 為 : xem là; cho rằng. Thí dụ:

– khuyển bất khả dĩ vi dương 犬 不 可 以 為 羊 : chó không thể [được] xem là dê.

– thế chi nhân dĩ vi dưỡng hình túc dĩ tồn sinh 世 之 人 以 為 養 形 足 以 存 生 : người đời cho rằng hễ nuôi dưỡng thân thể là đủ để giữ được sự sống.

2. dĩ 以 : lấy … để làm gì. Thí dụ:

– nhi dĩ thạch kích nha 兒 以 石 擊 鴉 : đứa bé lấy đá ném vào con quạ.

– dĩ lực phục nhân 以 力 服 人 : lấy sức mạnh để khuất phục người ta.

– dĩ đức báo oán 以 德 報 怨 : lấy ân đức mà đáp lại sự oán hận.

– dĩ huệ đãi nhân 以 惠 待 人 : lấy ân huệ mà đối đãi kẻ khác.

 dĩ 以 : để làm gì. Thí dụ:

– thánh nhân tích đức bất tích tài, hữu đức dĩ giáo ngu, hữu tài dĩ dữ bần dã 聖 人 積 德 不 積 財 , 有 德 以 教 愚 , 有 財 以 與 貧 也 : thánh nhân tích đức chứ không tích trữ của nả; có đức để giáo hoá kẻ ngu, có của nả để tặng kẻ nghèo.

3. hồ 乎: chăng? ư?

– vi quý hồ 為 貴 乎 : xem là quý chăng?

– khả hồ? 可 乎 : có thể được chăng?

– nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ? 人 不 知 而 不 慍 , 不 亦 君 子 乎 người đời chẳng biết đến mình mà mình không oán, đó chẳng phải là quân tử sao?

4. nhi nhân yếm chi 而 人 厭 之 : mà người ta ghét chúng. Ở đây nhi 而 diễn tả sự trái lại (thế nhưng, nhưng mà, mà). Tương tự:

– quốc đại nhi nhược 國 大 而 弱 : nước lớn mà yếu.

– nhận đoản nhi lợi 刃 短 而 利 : dao ngắn nhưng bén.

– bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu 貧 而 無 諂 富 而 無 驕 : nghèo nhưng không nịnh ai, giàu nhưng không tự kiêu.

5. tại đáng thời 在 當 時 : cốt ở đúng lúc. Chữ tại 在 ở đây nghĩa là «cốt ở, chủ yếu là, quan trọng là»; chữ 當 ở đây đọc là đáng (chính đáng), có khi đọc là đương (phải, nên). Tương tự:

– tướng tại mưu nhi bất tại dũng 將 在 謀 而 不 在 勇 : tướng lĩnh chủ yếu là ở mưu chước chứ không phải ở dũng mãnh.

– binh tại tinh nhi bất tại đa 兵 在 精 而 不 在 多 : quân lính chủ yếu là ở tinh nhuệ chứ không phải ở đông đảo.

6. nhi dĩ 而 已 : mà thôi. Tương tự:

– trị quốc giả nhược nậu điền, khử hại miêu giả nhi dĩ 治 國 者 若 鎒 田 ,去 害 苗 者 而 已 : việc trị nước giống như việc trừ cỏ dại ở ruộng, chỉ cần trừ các thứ làm hại mạ và lúa non mà thôi.

– nam lạc kỳ trù, nữ tu kỳ nghiệp; như thử nhi dĩ 男 樂 其 疇 , 女 修 其 業 ; 如 此 而 已 : đàn ông vui với việc đồng áng, đàn bà luyện tập nữ công; chỉ như vậy mà thôi.

 

Dịch:

LẮM LỜI VÔ ÍCH – Có người hỏi Mặc Tử rằng: «Lời nói lấy nhiều làm quý chăng?» Mặc Tử đáp: «Ễnh ương ngày đêm kêu mà người ta ghét chúng. Gà trống gáy một tiếng mà thiên hạ chấn động. Lời nói cốt ở đúng lúc mà thôi. Lắm lời có ích chi?»

 

Tập viết cổ văn:

1. Có người nói: sự học lấy chuyên nhất làm quý.

2. Lời ấy có đúng (thị 是 ) không?

3. Đêm ngày học tập mà không chán (yếm 厭 ).

4. Khổng Tử học tập mà không chán, dạy người (hối nhân  誨 人 , giáo nhân  教 人 ) mà không thấy mệt (quyện 倦 ).

5. Tiếng gáy của con gà trống làm chấn động thiên hạ.

6. Người ta đều ghét tiếng kêu đêm ngày của ễnh ương vậy.

7. Ai cũng ghét (yếm 厭 = ố 惡 ) kẻ lắm lời. Sao ngươi lại lắm lời?

Chú ý: Chữ 惡 có hai âm: ố (ghét) và ác (độc ác, trái với thiện 善 ).

8. Kẻ lắm lời thật đáng ghét (thậm khả ố 甚 可 惡 ).

9. Khổng Tử xem sự học là quý mà thôi.

10. Thánh nhân xem của nả (tài 財 ) là vật ở ngoài thân.

11. Lời nói đúng lúc thì quý, lời nói không đúng lúc thì vô ích.

12. Học vấn cốt ở tinh và sâu (tinh thâm 精 深 ) mà thôi.

13. Quân tử lấy đức mà đối đãi người; yên với cái nghèo, vui với đạo, không oán trời.

14. Kẻ an bần lạc đạo [chỉ có] thánh nhân mà thôi.

15. Lời nói của kẻ tiểu nhân 小 人 có ích gì đâu.

16. Tiểu nhân quý trọng tài phú 財 富 , xem nó là bản mệnh 本 命 của mình.

Đa ngôn vô ích 多 言 無 益

Đáp án tập viết cổ văn

1. Có người nói: sự học lấy chuyên nhất làm quý.

– 或 曰 : 學 以 專 一 為 貴 hoặc viết: học dĩ chuyên nhất vi quý.

2. Lời ấy có đúng không?

– 此 言 是 乎 thử ngôn thị hồ?

3. Đêm ngày học tập mà không chán.

– 日 夜 學 而 不 厭 nhật dạ học nhi bất yếm.

4. Khổng Tử học tập mà không chán, dạy người mà không thấy mệt.

– 孔 子 學 而 不 厭 誨 人 不 倦 Khổng Tử học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện.

5. Tiếng gáy của con gà trống làm chấn động thiên hạ.

– 雄 雞 之 鳴 振 動 天 下 hùng kê chi minh chấn động thiên hạ.

6. Người ta đều ghét tiếng kêu đêm ngày của ễnh ương vậy.

– 人 皆 厭 蝦 蟆 日 夜 之 鳴 也 nhân giai yếm hà mô nhật dạ chi minh dã.

7. Ai cũng ghét kẻ lắm lời. Sao ngươi lại lắm lời?

– 人 皆 惡 多 言 者 . 汝 何 多 言 nhân giai ố đa ngôn giả; nhữ hà đa ngôn?

8. Kẻ lắm lời thật đáng ghét.

– 多 言 者 甚 可 惡 也 đa ngôn giả thậm khả ố dã.

9. Khổng Tử xem sự học là quý mà thôi.

– 孔 子以 學 為 貴 而 已 Khổng Tử dĩ học vi quý nhi dĩ.

10. Thánh nhân xem của nả là vật ở ngoài thân.

– 聖 人 以 財 為 身 外 之 物 thánh nhân dĩ tài vi thân ngoại chi vật.

11. Lời nói đúng lúc thì quý, lời nói không đúng lúc thì vô ích.

– 當 時 之 言 貴 , 不 當 時 之 言 無 益 đáng thời chi ngôn quý, bất đáng thời chi ngôn vô ích.

12. Học vấn cốt ở tinh và sâu mà thôi.

– 學 問 在 精 深 而 已 học vấn tại tinh thâm nhi dĩ.

13. Quân tử lấy đức mà đối đãi người; yên với cái nghèo, vui với đạo, không oán trời.

– 君 子 以 德 待 人 ; 安 貧 樂 道 , 不 怨 天 quân tử dĩ đức đãi nhân; an bần lạc đạo, bất oán thiên.

14. Kẻ an bần lạc đạo [chỉ có] thánh nhân mà thôi.

– 安 貧 樂 道 者 , 聖 人 而 已 an bần lạc đạo giả, thánh nhân nhi dĩ.

15. Lời nói của kẻ tiểu nhân có ích gì đâu.

– 小 人 之 言 何 益 tiểu nhân chi ngôn hà ích.

16. Tiểu nhân quý trọng tài phú, xem nó là bản mệnh của mình.

  • 小 人 貴 財 富 , 以 為 其 本 命 tiểu nhân quý tài phú, dĩ vi kỳ bản mệnh.

5 .Bất thức tự 不 識 字

山 有 虎 害 人 畜。獵 人 謀 捕 虎。設 阱 以 伺 之。大 書 牆 上 曰。下 有 虎 阱。行 人 止 步。鄉 人不 識 字 者。過 牆 下。誤 蹴 之。墜 阱 傷 足。大 呼 求 援。既 出。人 指 牆 上 書 告 之。乃 嘆 曰。吾 苟 識 字。豈 至 此 哉。

 

Phiên âm:

Sơn hữu hổ hại nhân súc. Liệp nhân mưu bổ hổ. Thiết tỉnh dĩ tý chi. Đại thư tường thượng viết: «Hạ hữu hổ tỉnh. Hành nhân chỉ bộ.» Hương nhân bất thức tự giả, quá tường hạ, ngộ tựu chi, truỵ tỉnh thương túc, đại hô cầu viện. Ký xuất, nhân chỉ tường thượng thư cáo chi. Nãi thán viết: «Ngô cẩu thức tự, khởi chí thử tai!»

 

Từ ngữ:

(1) sơn 山 : núi. (2) hổ 虎 : cọp. (3) hại 害 : hại ( ích 益, lợi 利 ). (4) súc 畜 : gia súc; nuôi [gia súc]. (5) liệp 獵 : săn bắn. (6) liệp nhân 獵 人 : thợ săn. (7) mưu 謀 : mưu tính; mưu kế. (8) bổ 捕 : bắt sống; bắt giữ. (9) thiết 設 : lập nên, thiết lập; bày ra. (10) tỉnh 阱 : cái hố; hầm hố bẫy thú. (11) tý (tứ) 伺 : dò xét; phục kích. (12) đại 大 : lớn ( tiểu 小 : nhỏ). (13) thư 書 : viết chữ; sách; lá thư. (14) tường 牆 : bức tường. (15) hành nhân 行 人 : người đi đường. (16) chỉ 止 : dừng, đình chỉ. (17) bộ 步 : bước chân. (18) chỉ bộ 止 步 : dừng bước. (19) hương 鄉 : làng; quê hương. (20) hương nhân 鄉 人 : dân làng. (21) quá 過 : đi qua, vượt qua; lỗi lầm. (22) ngộ 誤 : lỗi lầm; lỡ phạm phải. (23) tựu 蹴 : dẫm lên; đạp lên; đá vào. (24) truỵ 墜 : rơi xuống. (25) thương 傷 : làm bị thương. (26) túc 足: chân ( thủ 手: tay). (27) hô 呼 : gào lên; thở ra ( hấp 吸 : hít vào). (28) cầu 求 : cầu xin. (29) viện 援 : cứu viện, giúp. (30) ký 既 : đã [làm gì] rồi. (31) xuất 出 : ra khỏi; ra ( nhập 入 : vào). (32) chỉ 指 : chỉ trỏ, trỏ vào; ngón tay. (33) thán 嘆 : than thở. (34) ngô 吾 : tôi; của tôi. (35) cẩu 苟 : nếu. (36) khởi 豈 : há; lẽ nào. (37) chí 至 : đến; rất mực. (38) tai 哉 : (hư từ tán thán).

 

Ngữ pháp:

1. dĩ tý chi 以 伺 之 : để phục kích nó; để bẫy nó. Tương tự:

– dĩ an lương dân 以 安 良 民 : để làm yên lòng dân lành.

– nhẫn nộ dĩ toàn âm khí, ức hỉ dĩ dưỡng dương khí 忍 怒 以 全 陰 氣 , 抑 喜 以 養 陽 氣 : dằn cơn giận để bảo toàn âm khí, nén vui mừng để bảo dưỡng dương khí.

2. ký xuất 既 出 : đã ra khỏi. Tương tự:

– ký cụ trí tuệ vô nan minh biện vạn vật chi lý 既 具 智 慧 , 無 難 明 辯 萬 物 之 理 : đã có đủ trí tuệ thì không khó phân biệt rõ lý lẽ của vạn vật.

– Thái Cực ký phân, lưỡng nghi lập hĩ 太 極 既 分 , 兩 儀 立 矣 : Thái Cực đã phân ra rồi thì lưỡng nghi (= Âm và Dương) thành lập.

 ký 既 …  thả 且 … : đã… lại còn…; không những… mà còn… Thí dụ:

– ký nhục thả nguy 既 辱 且 危 : đã nhục nhã lại còn lâm nguy.

– ký minh thả triết, khả bảo kỳ thân 既 明 且 哲 可 保 其 身 : đã sáng suốt còn khôn ngoan, có thể bảo vệ mạng mình.

3. khởi 豈 : lẽ nào; há. Thí dụ:

– khởi bất tri? 豈 不 知 : lẽ nào lại không biết hay sao?

– khởi khả như thử? 豈 可 如 此 : lẽ nào lại có thể như thế này?

– điểu trạch mộc, mộc khởi năng trạch điểu? 鳥 擇 木 木 豈 能 擇 鳥 : chim lựa cây [mà đậu] lẽ nào cây có thể lựa chim hay sao?

4. tai 哉 là hư từ đặt ở cuối câu, biểu thị tán thán. Thí dụ:

– thiện tai 善 哉 : tốt thay!

– Thiên lý như thử, khởi khả nghịch tai? 天 理 如 此 , 豈 可 逆 哉 : Lẽ trời là thế, chúng ta há có thể làm trái lại ư?

– Hiền tai, Hồi dã. Nhất đan thực, nhất biều ẩm, tại lậu hạng, nhân bất kham kỳ ưu, Hồi dã bất cải kỳ lạc. Hiền tai, Hồi dã 賢 哉 , 回 也 . 一 簞 食 , 一 瓢 飲 , 在 陋 巷 , 人 不 堪 其 憂 , 回 也 不 改 其 樂 . 賢 哉 , 回 也 : Nhan Hồi hiền vậy thay! Một giỏ cơm, một bầu nước, ở trong ngõ hẻm tồi tàn, kẻ khác không kham nổi cảnh khổ đó, mà Hồi thì chẳng đổi niềm vui. Hồi hiền vậy thay! (Đây là lời của thầy Khổng khen đệ tử Nhan Hồi).

 

Dịch:

KHÔNG BIẾT CHỮ – Núi có cọp làm hại người và gia súc. Thợ săn lập mưu bắt cọp. [Họ] làm cái hầm để bẫy cọp. [Họ] viết chữ lớn trên bức tường rằng: «Dưới đây có hầm bẫy cọp. Người đi đường hãy dừng bước.» Dân làng [có] kẻ không biết chữ, đi qua bức tường, đạp nhầm vào, rơi xuống hầm, bị thương ở chân, [nên] gào lớn cầu cứu. [Hắn] ra khỏi hầm rồi, người ta chỉ vào chữ viết trên tường bảo hắn. Hắn bèn than rằng: «Nếu tôi biết chữ, lẽ nào đến nông nỗi này!»

 

Tập viết cổ văn:

1. Cọp núi đã hại gia súc còn hại người.

2. Cọp đã to lớn lại còn hung dữ.

3. Làng này có kẻ không biết chữ.

4. Kẻ không biết chữ trong làng này thì rất nhiều.

5. Thợ săn làm hầm để bắt cọp.

6. Người ta lẽ nào có thể không biết chữ?

7. Kẻ không biết chữ đã rơi xuống hầm lại còn bị thương ở chân.

8. Cha của người không biết chữ ấy cũng không biết chữ.

9. Không biết chữ rất có hại thay!

10. Cọp đi qua hầm mà không rơi xuống; thợ săn gấp rút lấy đá ném nó.

11. Ai cũng biết cái hại của sự không biết chữ.

12. Kẻ này đã không biết chữ lại còn lắm lời; dân làng đều ghét hắn.

13. Kẻ làm hầm để bắt cọp là thợ săn.

14. Tại sao người dân làng ấy rơi xuống hầm bẫy cọp?

15. Người ấy nếu biết chữ thì sẽ không rơi xuống hầm bẫy cọp.

16. Cha người thợ săn nói cho hắn biết cái hại của lắm lời.

Bất thức tự 不 識 字

Đáp án tập viết cổ văn

1. Cọp núi đã hại gia súc còn hại người.

– 山 虎 既 害 畜 且 人 sơn hổ ký hại súc thả nhân.

2. Cọp đã to lớn lại còn hung dữ.

– 虎 既 大 且 凶 hổ ký đại thả hung.

3. Làng này có kẻ không biết chữ.

– 此 鄉 有 不 識 字 者 thử hương hữu bất thức tự giả.

4. Kẻ không biết chữ trong làng này thì rất nhiều.

– 此 鄉 中 不 識 字 者 甚 多 thử hương trung bất thức tự giả thậm đa.

5. Thợ săn làm hầm để bắt cọp.

–  獵 人 設 阱 以 捕 虎 liệp nhân thiết tỉnh dĩ bổ hổ.

6. Người ta lẽ nào có thể không biết chữ?

– 人 豈 可 不 識 字 nhân khởi khả bất thức tự?

7. Kẻ không biết chữ đã rơi xuống hầm lại còn bị thương ở chân.

– 不 識 字 者 既 墜 阱 且 傷 足 bất thức tự giả ký truỵ tỉnh thả thương túc.

8. Cha của người không biết chữ ấy cũng không biết chữ.

– 不 識 字 者 之 父 亦 不 識 字 bất thức tự giả chi phụ diệc bất thức tự.

9. Không biết chữ rất có hại thay!

– 不 識 字 甚 害 哉 bất thức tự thậm hại tai!

10. Cọp đi qua hầm mà không rơi xuống; thợ săn gấp rút lấy đá ném nó.

– 虎 過 阱 而 不 墜 ; 獵 人 急 以 石 擊 之 hổ quá tỉnh nhi bất truỵ; liệp nhân cấp dĩ thạch kích chi.

11. Ai cũng biết cái hại của sự không biết chữ.

– 人 皆 知 不 識 字 之 害 也 nhân giai tri bất thức tự chi hại dã.

12. Kẻ này đã không biết chữ lại còn lắm lời; dân làng đều ghét hắn.

– 此 人 既 不 識 字 且 多 言 ; 鄉 人 皆 厭之 thử nhân ký bất thức tự thả đa ngôn; hương nhân giai yếm chi.

13. Kẻ làm hầm để bắt cọp là thợ săn.

– 設 阱 以 捕 虎 者 獵 人 也 thiết tỉnh dĩ bổ hổ giả liệp nhân dã.

14. Tại sao người dân làng ấy rơi xuống hầm bẫy cọp?

– 此 鄉 人 何 以 墜 於 虎 阱 中 thử hương nhân hà dĩ truỵ ư hổ tỉnh trung?

15. Người ấy nếu biết chữ thì sẽ không rơi xuống hầm bẫy cọp.

– 其 人 苟 識 字 , 不 可 墜 於 虎 阱 中 kỳ nhân cẩu thức tự bất khả truỵ ư hổ tỉnh trung.

16. Cha người thợ săn nói cho hắn biết cái hại của lắm lời.

– 獵 人 之 父 告 之 多 言 之 害 liệp nhân chi phụ cáo chi đa ngôn chi hại.

 
Để lại bình luận

Posted by on 22 Tháng Một, 2015 in Khác

 

Nghi lễ tại đền thờ tứ phủ

nghi lễ tại đền thờ tứ phủ

Trình tự dâng lễ

Theo lệ thường, người ta lễ thần Thổ địa, thủ Đền trước, gọi là lễ trình. Gọi là lễ trình vì đó là lễ cáo Thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ

Trình tự dâng lễ

– Theo lệ thường, người ta lễ thần Thổ địa, thủ Đền trước, gọi là lễ trình. Gọi là lễ trình vì đó là lễ cáo Thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ. Người thực hành tín ngưỡng cao lễ Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.

Sau đó người ta sửa sang lễ vật một lần nữa. Mỗi lễ đều được sắp bày ra các mâm và khay chuyên dùng vào việc cúng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.

– Kế đến là đặt lễ vào các ban. Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay dâng lễ vật, đặt cẩn trọng lên bàn thờ. Cần đặt lễ vật lên ban chính trở ra ban ngoài cùng.

– Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban thì mới được thắp hương.

– Khi làm lễ, cần phải lễ từ ban công đồng vào trong cung chính ở gian giữa sau đó lễ từ trong ra ngòai ở 2 gian bên . Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ cô thờ cậu.

– Thứ tự khi thắp hương:

Thắp từ trong ra ngoài

Ban thờ chính của điện được đặt theo hàng dọc, ở gian giữa được thắp hương trước.

Các ban thờ hai bên được thắp hương sau khi đã thắp xong hương ban chính ở gian giữa.

Khi thắp hương cần dùng số lẻ: 1, 3, 5, 7 nén. Thường thì 3 nén.

Sau khi hương được châm lửa thì dùng hai tay dâng hương lên ngang trán, vái ba vái rồi dùng cả hai tay kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ.

Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên một cái đĩa nhỏ, hai tay nâng đĩa sớ lên ngang mày rồi vái 3 lần.

Trước khi khấn thường có thỉnh chuông. Thỉnh ba hồi chuông. Thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ.

Văn khấn

Khi tiến hành lễ dâng hương bạn có thể đọc văn khấn, sớ trình trước các ban, hoặc chỉ cần đặt văn khấn, sớ trình lên một cái đĩa nhỏ, rồi đặt vào mâm lễ dâng cúng cũng được.

Khi hoá vàng thì phải hoá văn khấn và sớ trước

Trong việc thực hiện nghi lễ ở Đền đình chùa miếu thì lời kêu tiếng khấn đóng vai trò hết sức quan trọng.Trong nhân gian cũng lưu truyền bết bao câu chuyện về sự linh ứng nhờ lời kêu, tiếng khấn của người làm lễ dâng hương với gia tiên Thánh thần và chư Phật, chư Bồ Tát, Thánh Hiền.Trong các bài khấn các lời lẽ giọng điệu đều được trau truốt kính cẩn.văn khấn có thể sử dụng hán tự hay những bài khấn nôm khấn truyền miệng.

 Trong các bài văn khấn nôm thông thường có các nội dung

Khấn danh hiệu các vị thánh

khấn ngày tháng,địa chỉ nơi ở,tên tuổi…bản thân và gia quyến (hương chủ)

Khấn sám hối các lỗi lầm và xin đựoc tha thứ

Khấn các ước nguyện

các bản văn khấn thường rất hay được làm theo các thể loại thơ lục bát,song thất lục bát thất ngôn,8tiếng  như đồng dao hay sử dụng hán tự ( dùng hán tự mang ý nghĩa trang nghiêm hơn)

các ví dụ

 thơ lục bát:  "con lạy đức phật thích ca

                    sám hối con lạy phật bà quan âm"

                hay  " nam mô đức phật thích ca

                   Cùng đức thánh mẫu phật bà quan âm

                         đệ tử thành kính nhất tâm

                 thỉnh mời chư phật giáng lâm đền đài

                        Chư phật con đã thỉnh lai

                    mời tam tứ phủ giáng lai đền này……….."

bài khấn dứoi đây là bài khấn các danh hiệu của các vị thánh thường được thờ trong tứ phủ bài khấn sửa dụng khá nhiều các câu 4 tiếng 6 tiếng hoặc 8 tiếng

Văn Khấn ở đền phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương trời, mười phương đất

, Chư phật mười phương mười phương ,mười phương chưphật

, ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật

, Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên

Con xin sám hối con lạy đức Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế –Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn

_ Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân

_ Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân

_ Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan

_ Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú

Dưong phủ ngũ nhạc thần vưong

Địa phủ thập điện minh vưong

_ con xin sám hối đến Thái Ninh Phủ ,Bát Hải Linh Từ xám hối Vua Cha bát Hải động đình

Con sám hối Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu

Con Sám hối Quốc Mẫu Vua Bà Bơ Toà Thánh Mẫu

_ Mẫu đệ nhất thiên tiên quỳnh hoa Liễu Hạnh

Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.

_ Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư

Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

_ Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cungXích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa,Hàn Sơn Linh Từ

Con lay trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong

Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân

Vương Tử , vương nữ , vương tể , vương tôn

Tứ vị Vưong tử

Nhị Vị Vương cô

Phạm tướng quân

cô bé cửa suốt

cậu bé cửa đông

Con lạy công đồng thánh chúa: Hội đông thánh chúa:chúa mán ,chúa mường, nùng dao sơn trại

chúa sơn lâm ,chuá sơn trang 18 cửa ngàn, 12 cửa bể

con xám hối tới ba toà chuá bói, bảy tòa chuá chữa

chúa đệ nhất tây thiên

đệ nhị nguyệt hồ

đệ tam lâm thao

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Bách vị các quan ngũ vị tôn quan

+ Quan đệ nhất Thượng Thiên

+Quan đệ nhị thượng ngàn

+Quan đệ tam thoải phủ

+Quan đệ tứ khâm sai

+ Quan đệ ngũ tuần tranh

con xám hối điều thất tôn quan

Hoàng triệu tôn quan

con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà

Con lạy Chúa Bà Ngũ phương bản Cảnh năm phưong bản xứ

Chầu chúa thác bờ

Tứ phủ thánh hoàng

tứ phủ thánh cô

tứ phủ thánh cậu

Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan

Con lạy thanh xà đại tứong quân

Bạch xà đại tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

Đê tử con là:…………………………………………………………………….

Ngụ tại:…………………………………………………………………………………

Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời

Mậu tý niên…nguyệt…..thời

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành nhất tâm tưởng vạn tâm cầu tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ mang miệng tới tâu mang đầu tới bái cửa đình thần tam tứ phủ .trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương vuốt ve che chở phù hộ độ trì cho con 3 tháng hè 9 tháng đông,đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,tứ thời bát tiết,tháng thuấn ngày nghiêu,phong thuận vũ hòa ,tai qua nạn khỏi.mẫu cho con sang hai con mắt bằng 2 bàn chân,mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ cho con tươi như lá đẹp như hoa,phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,mẫu cho con lộc ăn lộc nói lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,hồ hết lại có hồ vơi lại đầy ,điều lành mang đến điều dữ mang đi.Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ vuốt ve che chở nắn nở mở mang.cải hung vi cát cải hạo vi tường,thay son đổi số nảy mực cầm cân.mẫu phê chữ đỏ bỏ chữ đen,cho con đc trăm sự tốt vạn sự lành trên quý dưới yêu trên vì dưới nể.cho gặp thầy gặp bạn cầu người dc người cầu của dc của.Mẫu ban danh ban diện ban quyền cho con có lương có thực có ngân có xuyên cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc cầu bình an đắc bình an trồng cây đắp phúc cho con dc nở cành xanh lá phúc lộc đề đa cho trên thuận dưới hòa trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.nứoc chảy 1 dòng thuyền xuôi 1 bến,năm sung giải tháng hạn giải hạn cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ Đệ tử con người trần mắt thịt nhẫn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.tuổi còn trẻ tóc còn xanh ăn chưa sạch bạch chưa thong ăn chưa nên đọi nói chưa lên lời không biết kêu sao cho thấu tấu sao cho tường ,con biết tới đâu con tâu tới đấy 3 điều ko sảy 7 điều ko sai.Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương.Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.Mẫu soi đường chỉ lối cho con bit đừong mà lội biết lối mà lần.hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu 1 bó con khó 1 nén giàu làm kép hẹp làm đơn,thiếu mẫu cho almf đủ vơi mẫu cho làm đầy .mẫu chấp kỳ lễ vật chấp lễ chấp bái chấp lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự cho con sở nguyện  như ý sở cầu tong tâm .con nam mô a di đà phât(3 lần)

 
Để lại bình luận

Posted by on 22 Tháng Một, 2015 in Khác

 

Ngụ trung nhật ký

https://i0.wp.com/www.bqllang.gov.vn/images/tintuc/20.11.2012/di_thu_3_.jpg

無題

身体在獄中
精神在獄外
欲成大事業
精神更要大

Vô đề

Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại
Dục thành đại sự nghiệp
Tinh thần cánh yếu đại

開卷

老夫原不愛吟詩
因為囚中無所為
聊借吟詩消永日
且吟且待自由時

Khai quyển

Lão phu nguyên bất ái ngâm thi
Nhân vị tù trung vô sở vi
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
Thả ngâm thả đãi tự do thì

在足榮街被扣留

足榮卻使余蒙辱
故意遲延我去程
間諜嫌疑空捏造
把人名譽白犧牲

Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu

Túc Vinh khước sử dư mông nhục
Cố ý trì diên ngã khứ trình
Gián điệp hiềm nghi không niết tạo
Bả nhân danh dự bạch hy sinh

入靖西縣獄

獄中舊犯迎新犯
天上晴雲逐雨雲
晴雨浮雲飛去了
獄中留住自由人

Nhập Tĩnh Tây huyện ngục

Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thượng tình vân trục vũ vân
Tình vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lưu trú tự do nhân

世路難

走遍高山與峻岩
那知平路更難堪
高山遇虎終無恙
平路逢人卻被監
余原代表越南民
擬到中華見要人
無奈風波平地起
送余入獄作嘉賓
忠誠我本無心疚
卻被嫌疑做漢奸
處世原來非易易
而今處世更難難

Thế lộ nan

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham
Na tri bình lộ cánh nan kham
Cao sơn lộ hổ chung vô dạng
Bình lộ phùng nhân khước bị giam

Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân
Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân
Vô nại phong ba bình địa khởi
Tống dư nhập ngụ tác gia tân

Trung thành ngã bản vô tâm cứu
Khước bị hiềm nghi tố Hán gian
Xử thế nguyên lai phi dị dị
Nhi kim xử thế cánh nan nan.

太陽每早從牆上
照著龍門門未開
籠裡現時還黑暗
光明卻已面前來

早起人人爭獵虱
八鐘響了早餐開
勸君且吃一個飽
否極之時必泰來

Tảo

Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng
Chiếu trước lung môn môn vị khai
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.

Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt
Bát chung hưởng liễu tảo xan khai
Khuyến quân thả ngật nhất cá bão
Bĩ cực chi thì tất thái lai.

獄中午睡真舒服
一睡昏昏幾句鐘
夢見乘龍天上去
醒時才覺臥籠中

Ngọ

Ngục trung ngọ thụy chân như phục
Nhất thụy hôn hôn kỷ cú chung
Mộng kiến thừa long thiên thượng khứ
Tỉnh thời tài giác ngọa lung trung

問話

社會的兩極
法官與犯人
官曰你有罪
犯曰我良民
官曰你說假
犯曰我言真
法官性本善
假裝惡狺狺
要入人於罪
卻假意慇懃
這兩極之奸
立著公理神

Vấn thoại

Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: nhĩ hữu tội,
Phạm viết: ngã lương dân;
Quan viết: nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần.

午後

二點開籠換空氣
人人仰看自由天
自由天上神仙客
知否籠中也有仙

Ngọ hậu

Nhị điểm khai lung hoán không khí
Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên
Tự do thiên thượng thần tiên khách
Tri phủ lung trung dã hữu tiên.

晚餐吃了日西沉
處處山歌與樂音
幽暗靖西禁閉室
忽成美術小翰林

Vãn

Vãn xan ngật liễu nhật tây trầm
Xứ xứ sơn ca dữ nhạc âm
U ám Tĩnh Tây cấm bế thất
Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm.

望月

獄中無酒亦無花
對此良宵奈若何
人向窗前看明月
月從窗隙看詩家

Vọng nguyệt

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

學奕棋

閑坐無聊學奕棋
千兵萬馬共驅馳
進攻退守應神速
高才疾足先得之

眼光應大心應細
堅決時時要進攻
錯路雙車也沒用
逢時一卒可成功

雙方勢力本平均
勝利終須屬一人
攻守運籌無漏著
才稱英勇大將軍

Học dịch kỳ

Nhàn tọa vô liêu học dịch kỳ
Thiên binh vạn mã cộng khu trì;
Tấn công thoái thủ ưng thần tốc,
Cao tài tật túc tiên đắc chi.

Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế
Kiên quyết thời thời yếu tấn công
Thác lộ song xa dã một dụng
Phùng thời nhất tốt khả thành công?

Song phương thế lực bản bình quân
Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;
Công thủ vận trù vô lậu trước,
Tài xưng anh dũng đại tướng quân.

走路

走路才知走路難
重山之外又重山
重山登到高峰後
萬里與圖顧盼間

Tẩu lộ

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựu trùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lý dư đồ cố miện gian.

倦鳥歸林尋宿樹
孤雲慢慢度天空
山村少女磨包粟
包粟磨完爐已烘

Mộ

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

早解

一次雞啼夜未闌
群星擁月上秋山
征人已在征途上
迎面秋風陣陣寒

東方白色已成紅
幽暗殘餘早一空
暖氣包羅全宇宙
行人詩興忽加濃

Tảo giải

Nhất thứ kê đề dạ vị lan
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng
U ám tàn dư tảo nhất không
Noãn khí bao la toàn vũ trụ
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.

聞舂米聲

米被舂時很痛苦
既舂之後白如綿
人生在世也這樣
困難是你玉成天

Văn thung mễ thanh

Mễ bị thung thì, hẩn thống khổ,
Ký thung chi hậu, bạch như miên;
Nhân sinh tại thế dã giá dạng,
Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên.

折字

囚人出去或為國
患過頭時始見忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍

Chiết tự

Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.

Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), cho chữ hoặc (或) vào, thành chữ quốc (國). Chữ hoạn (患) bớt phần trên đi thành chữ trung (忠). Thêm bộ nhân (人) đứng vào chữ ưu (憂) trong “ưu sầu” thành chữ ưu (優) trong “ưu điểm”. Chữ lung (籠) bỏ bộ trúc đầu (竹) thành chữ long (龍).

一個賭犯硬了

他身只有骨包皮
痛苦飢寒不可支
昨夜他仍睡我側
今朝他已九泉歸

Nhất cá đổ phạm “ngạnh” liễu

Tha thân chi hữu cốt bao bì
Thống khổ cơ hàn bất khả chi
Tạc dạ tha nhưng thụy ngã trắc
Kim triêu tha dĩ cửu tuyền quy

睡不著

一更二更又三更
輾轉徘徊睡不成
四五更時才合眼
夢魂環繞五尖星

Thuỵ bất trước

Nhất canh … nhị canh… hựu tam canh,
Triển chuyển, bồi hồi, thụy bất thành;
Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn,
Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh.

憶友

昔君送我至江濱
問我歸期指谷新
現在新田已犁好
他鄉我作獄中人

Ức hữu

Tích quân tống ngã chí giang tân,
Vấn ngã quy kỳ, chỉ cốc tân.
Hiện tại tân điền dĩ lê hảo,
Tha hương ngã tác ngục trung nhân.

癩瘡

滿身紅綠如穿錦
成日撈搔似鼓琴
川錦囚中都貴客
鼓琴難友盡知音

Lại sang

Mãn thân hồng lục như xuyên cẩm,
Thành nhật lao tao tự cổ cầm;
Xuyên cẩm, tù trung đô quý khách,
Cổ cầm, nạn hữu tận tri âm

築路夫

餐風浴雨未曾休
慘淡經營築路夫
車馬行人來往者
幾人感謝你功勞

Trúc lộ phu

Xan phong dục vũ vị tằng hưu,
“Thảm đạm kinh doanh” trúc lộ phu;
Xa mã hành nhân lai vãng giả,
Kỷ nhân cảm tạ nhĩ công lao ?

獄丁竊我之士的

一生正直又堅強
攜手同行幾雪霜
恨彼奸人離我倆
長膠我你各凄涼

Ngục đinh thiết ngã chi sĩ-đích

Nhất sinh chính trực hựu kiên cương,
Huề thủ đồng hành kỷ tuyết sương;
Hận bỉ gian nhân ly ngã lưỡng,
Trường giao ngã nhĩ các thê lương.

賓陽獄中孩

Oa…! Oa…! Oaa…!
家怕當兵救國家
所以我年才半歲
要到獄中跟着媽

Tân Dương ngục trung hài

Oa…! Oa…! Oaa…!
Gia phạ đương binh cứu quốc gia;
Sở dĩ ngã niên tài bán tuế,
Yếu đáo ngục trung căn trước ma.

夜半

睡時都像純良漢
醒後才分善惡人
善惡原來無定性
爹由教育的原因

Dạ bán

Thụy thì đô tượng thuần lương hán,
Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân;
Thiện, ác nguyên lai vô định tính,
Đa do giáo dục đích nguyên nhân.

四個月了

一日囚千秋在外
古人之話不差訛
四月非人類生活
使余憔悴十年多

囚為
四月吃不飽
四月睡不好
四月不換衣
四月不洗澡

所以
落了一隻牙
髮白了許多
黑瘦像餓鬼
全身是癩痧

幸而
持久和忍耐
不肯退一分
物質雖痛苦
不動搖精神

Tứ cá nguyệt liễu

“Nhất nhật tù, thiên thu tại ngoại”,
Cổ nhân chi thoại bất sai ngoa!
Tứ nguyệt phi nhân loại sinh hoạt,
Sử dư tiều tụy thập niên đa.

Nhân vị:
Tứ nguyệt ngật bất bão,
Tứ nguyệt thụy bất hảo,
Tứ nguyệt bất hoán y,
Tứ nguyệt bất tẩy tảo.

Sở dĩ:
Lạc liễu nhất chích nha,
Phát bạch liễu hứa đa,
Hắc sấu tượng ngã quỷ,
Toàn thân thị lại sa.

Hạnh nhi:
Trì cửu hoà nhẫn nại,
Bất khẳng thoái nhất phân,
Vật chất tuy thống khổ,
Bất động dao tinh thần.

晚景

玫瑰花開花又謝
花開花謝兩無情
花香透入籠門裡
向在籠人訴不平

Vãn cảnh

Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ,
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình;
Hoa hương thấu nhập lung môn lý,
Hương tại lung nhân tố bất bình.

限制

沒有自由真痛苦
出恭也被人制裁
開籠之時肚不痛
肚痛之時籠不開

Hạn chế

Một hữu tự do chân thống khổ,
Xuất cung dã bị nhân chế tài;
Khai lung chi thì đỗ bất thống,
Đỗ thống chi thì lung bất khai.

睛天

事物循環原有定
雨天之後必晴天
片時宇宙解淋服
萬里山河晒錦氈
日暖風清花帶笑
樹高枝潤鳥爭言
人和萬物都興奮
苦盡甘來理自然

Tình thiên

Sự vật tuần hoàn nguyên hữu định,
Vũ thiên chi hậu tất tình thiên;
Phiến thì vũ trụ giải lâm phục,
Vạn lý sơn hà sái cẩm chiên;
Nhật noãn phong thanh hoa đới tiếu,
Thụ cao chi nhuận điểu tranh nghiên;
Nhân hòa vạn vật đồ hưng phấn,
Khổ tận cam lai, lý tự nhiên.

看千家詩有感

古詩偏愛天然美
山水煙花雪月風
現代詩中應有鐵
詩家也要會衝鋒

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm

Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,
Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong;
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong.

Đ

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

Thành ngữ Hán Việt

飲水思源, 緣木思本 Ẩm thuỷ tư nguyên, duyên mộc tư bổn
萍水相逢 Bình thuỷ tương phùng

Bèo nước gặp nhau –  gặp gỡ tình cờ

干什么,說什么, 買什么,吆喝什么 Cán thập ma, thuyết thập ma, mãi thập ma yêu hát thập ma Làm cái gì thì bàn luận về cái đó, bán gì thì rao to thứ đó; làm nghề gì thì hãy nhắc đến, bàn luận về nghề đó.
眾口難调 Chúng khẩu nan điều

Không thể làm vừa lòng tất cả. Làm dâu trăm họ. Lắm thầy nhiều ma.

只有千日做賊, 没有千日防賊 Chỉ hữu thiên nhật tố tặc, một hữu thiên nhật phòng tặc – Chỉ có ngày ngày làm giặc, khó bề ngàn ngày phòng giặc. Khó đề phòng chu đáo đối với những kẻ xấu.
多年的路走成河, 多年的媳婦熬成婆 Đa niên đích lộ tẩu thành hà, đa niên đích tức phụ ngao thành bà Con đường do người đi nhiều, lâu làm cho mòn đi có thể thành sông, người con dâu sống lâu năm, được rèn luyện nhiều rồi cũng thành mẹ chồng. Sống lâu lên lão làng.
桃紅柳 綠 Đào hồng liễu lục – Cảnh sắc mùa xuân đẹp.
桃李不言, 下自成蹊 Đào lý bất ngôn, hạ tự thành khê – Đào mận không biết tự khoe mình, nhưng nếu nhiều người đến hái thì tự nhiên sẽ thành đường đi dưới gốc cây; chân thành, trung thực thì có thể rung động được người khác;
同仇敌 愾 Đồng thù địch khái – Cùng chung mối thù
雕虫小技 Điêu trùng tiểu kĩ – Tài chỉ vẽ được con giun >Tài cán nhỏ mọn
鋌而走險 Đĩnh nhi tẩu hiểm – Bí quá làm liều
豆腐多了一包水, 空話多了无人信 Đậu hũ đa liễu nhất bao thuỷ, không thoại đa liễu vô nhân tín – Đậu phụ để lâu thì rữa, lời nói suông nhiều chẳng ai tin.
嫁出去的女兒, 撥出去的水 Giá xuất khứ đích nữ nhi, bát xuất khứ đích thuỷ – Gả con gái đi lấy chồng như bát nước hắt đi
家家賣酸酒, 不犯是高手 Gia gia mại toan tửu, bất phạm thị cao thủ – Nhà nhà bán rượu chua, không bị phát hiện mới là giỏi “Giỏi” ở đây ngụ ý: chê trách thủ đoạn gian trá, lừa đảo một cách khôn khéo.
好佛凑一堂, 鴛鴦凑一雙 Hảo Phật tấu nhất đường, uyên ương tấu nhất song  – Tượng phật đẹp nhờ đặt ở gian chính, uyên ương đẹp nhờ hợp từng cặp, từng đôi. Những người tài giỏi nên hợp sức với nhau.
行善得善, 行恶得恶 Hành thiện đắc thiện, hành ác đắc ác

Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo.

黄鼠狼給鷄拜年, 没安好心 Hoàng thử lang cấp kê bái niên, một an hảo tâm – Chồn cáo chúc tết gà, rắp tâm ăn gỏi. Gỉa bộ thân thiện nhằm thực hiện mưu đồ xấu.
渾水越澄越清, 是非越辯越明 Hỗn thuỷ việt trừng việt thanh, thị phi việt biện việt minh – Nước đục càng lắng càng trong, phải trái càng tranh luận càng rõ.
胸有成竹 Hung hữu thành trúc – Có hoạ sĩ đời Tống trước khi đặt bút vẽ cây trúc, đã phác thảo sẵn trong đầu; Định liệu trước. Chủ động.
虚心竹有低頭葉 Hư tâm trúc hữu đê đầu diệp – Trúc rỗng ruột có lá rủ đầu. Người nên khiêm nhường .
有志不在年高, 无志空活百歲 Hữu chí bất tại niên cao, vô  chí không hoạt bách tuế – Có chí chẳng do tuổi tác, không có chí thì trăm tuổi cũng tay không. Người có chí thì cuối cùng sự nghiệp sẽ thành công.
有猫不知猫功劳, 无猫才知老鼠多 Hữu miêu bất tri miêu công lao, vô miêu tài tri lão thử đa – Có mèo không biết công của mèo, không có mèo mới biết nhà lắm chuột. Không biết đánh giá công sức, tác dụng của người khác.
靠山好烧柴, 靠水好吃鱼 Kháo sơn hảo thiêu sài, kháo thuỷ hảo ngật ngư –

Ở núi nhiều củi đốt, gần nước lắm cá ăn. Được hưởng điều kiện đặc biệt thuận lợi của môi trường sinh sống.

見官三分灾 Kiến quan tam phân tai – Gặp quan là gặp tai hoạ. Thời trước người dân gặp quan coi như gặp tai hoạ.

Thua kiện mất quan hai, được kiện mười hai quan chẵn.

可放手時續放手, 得饒人時且饒人 Khả phóng thủ thời tục phóng thủ, đắc nhiêu nhân thời thả nhiêu nhân – Lúc nào cần phải ngừng tay thì nên ngừng tay, khi nào thấy tha thứ được cho người khác thì nên tha thứ. Nể tình nương tay.
鍥而不舍 Khiết nhi bất khả – Kiên trì làm đến cùng. Đã chạm phải chạm cho trót. Đã vót cho trơn.
輕描淡寫 Khinh miêu đạm tả – Khi vẽ pha màu nhạt lại vẽ không đậm nét; qua loa chiếu lệ. Xuê xoà cho xong chuyện.
騎驢看唱本,走着瞧 Kị lư khán xướng bản, tẩu trước tiêu – Cưỡi lừa xem hát, nhẩn nha mà xem. Cứ để xem diễn biến thế nào, rồi mới đưa ra kết luận.
老子偷瓜盗果, 兒子杀人防火 Lão tử thâu qua đảo quả, nhi tử sát nhân phóng hoả – Bố mà trộm cắp, thì con giết người. Người cha có hành động xấu xa, thì con cái sẽ bắt chước cha và phạm tội nặng hơn. Rau nào sâu ấy.
礼在人情在 Lễ tại nhân tình tại – Có lễ vật qua lại thì tình nghĩa sẽ còn. Còn bạc còn tiền còn đề tử.
劣漢争吃, 好漢争氣 Liệt hán tranh thực, hảo hán tranh khí – Kém cỏi tranh ăn, tài giỏi tranh tài. Người ta không thể chỉ vì miếng ăn, mà còn phải cố tạo nên cho mình một chỗ đứng đáng kể trong xã hội.
龍交龍, 鳳交鳳, 老鼠的朋友会打洞 Long giao long, phượng giao phượng, lão thử đích bằng hữu hội đả động – Rồng bay với rồng, phượng múa với phượng, bạn của chuột biết đào ngạch. Người thế nào thì kết giao với loại người thế ấy. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.
量材录用 Lượng tài lục dụng – Bố trí công việc đúng khả năng
馬老无人騎, 人老就受欺 Mã lão vô nhân kỵ, nhân lão tựu thụ khi – Ngựa già chẳng ai buồn cưỡi, người già bị lắm kẻ khinh
猫哭老鼠假慈悲 Miêu khấp lão thử, giá từ bi – Tâm địa độc ác, giả bộ từ bi. Nước mắt cá sấu
眉来眼去 My lai nhãn khứ – Mày lại mắt đi. Nghĩa: lấy mắt mày để tỏ ý ngầm với nhau.Trai gái dùng mắt đưa tình.
男子痴, 一时迷, 女子痴, 没葯醫 Nam tử si, nhất thời mê, nữ tử si, một dược y – Nam si tình chóng qua đi; nữ si tình hết thuốc chữa. Tình cảm yêu đương của nữ giới thường sâu sắc mãnh liệt hơn hẳn nam giới.
男盗女娼 Nam đạo nữ xương – Nam trộm cắp, gái bán điếm; cùng một lũ mèo mả gà đồng
男子三十一枝花, 女子三十老人家 Nam tử tam thập nhất chi hoa, nữ tử tam thập lão nhân gia – Trai ba mươi tuổi đang xoan, gái ba mươi tuổi đã toan về già.
男无酒如旗无風 Nam vô tửu như kỳ vô phong – Đàn ông không uống rượu thì thiếu sắc khí, vẻ linh lợi
一日為師,終身為父 Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ – Một ngày làm thầy, suốt đời là cha. Học ai dù chỉ một ngày, cũng phải tôn kính người ấy như cha suốt đời.
一个香爐一个磬, 一个人一个性 Nhất cá hương lô nhất cá khánh, nhất cá nhân nhất cá tính – Mỗi bát nhang một cái khánh, mỗi người một cá tính. Tính nết mỗi người một khác, giống như ở đình chùa cái bát nhang khác với cái khánh vậy. Chín người mười tính.
人非草木, 豈能无情 Nhân phi thảo mộc, khởi năng vô tình – Người không phải cỏ cây, há lại vô tình. Con người nhất thiết phải có tình cảm.
人凭志氣虎凭威 Nhân bằng chí khí hổ bằng uy – Con người dựa vào chí khí, con hổ dựa vào uy phong.
人生何处不相逢 Nhân sinh hà xứ bất tương phùng – Trong đời, thiếu gì nơi có thể gặp nhau. Có thể sẽ còn gặp lại nhau, vậy hãy giữ cho quan hệ được tốt đẹp, thân thiện.
人在矮檐下, 怎敢不低頭 Nhân tại oải thiểm hạ, chẩm cảm bất đê đầu – Đứng dưới mái nhà thấp thì làm sao có thể ngẩng đầu lên được;dưới quyền của kẻ khác thì phải dằm lòng cam chịu. Há miệng mắc quai.
人直不富, 港直不深 Nhân trực bất phú, cảng trực bất thâm – Người thẳng chẳng giàu, cảng thẳng chẳng sâu.
人无横財不富, 馬无夜草不肥 Nhân vô quảng tài bất phú, mã vô dạ thảo bất phỉ – Người không tiền bất nghĩa chẳng giàu, ngựa không cỏ ăn đêm chẳng béo. Sự giàu có của kẻ bóc lột là nhờ đồng tiền bất nghĩa tạo nên.
人愛富的, 狗咬貧的 Nhân ái phú đích, cẩu giảo bần đích – Người yêu kẻ giàu, chó cắn kẻ nghèo. Người giàu được kính yêu, người nghèo bị khinh rẻ.
人到矮檐下, 怎能不低頭 Nhân đáo oải thiểm hạ, chẩm năng bất đê đầu – Bước qua mái hiên thấp, sao không phải cúi đầu. Bất đắc dĩ phải khuất phụ hoàn cảnh.
人越醜越愛戴花 Nhân việt xú việt ái đới hoa – Người càng xấu càng thích cài hoa. Ai cũng muốn che giấu khuyết điểm của mình.
日出万言, 必有一傷 Nhật xuất vạn ngôn, tất hữu nhất thương – Ngày nói vạn lời, ắt có câu khiến người tổn thương.
兒行千里母擔忧, 母行千里兒不愁 Nhi hành thiên lý mẫu đảm ưu, mẫu hành thiên lý nhi bất sầu – Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu.
兒子是自己的好, 老婆是别人的好 Nhi tử thị tự kỷ đích hảo, lão bà thị biệt nhân đích hảo- Con mình thì hay, vợ người thì đẹp.
任凭風浪起, 稳坐釣魚船 Nhiệm bằng phong lãng khởi, ổn toạ điếu ngư thuyền – Bất kể sống to gió lớn như thế nào vẫn ung dung ngồi câu cá; Không dao động trước khó khăn nguy hiểm.
弱肉强食, 适者生存 Nhược nhục cường thực, thích giả sinh tồn – Yếu làm mồi ăn cho kẻ mạnh, kẻ muốn sống tồn phải trải qua sự chiến thắng kẻ thù địch. Cá lớn nuốt cá bé.
瓦罐不离井上破, 将軍難免陣中亡 Ngoã quán bất ly tỉnh thượng phá, tướng quân nan miễn trận trùng vong – Chậu sành sẽ va vào thành giếng mà vỡ, tướng quân khó tránh bị tử trận. Thường xuyên hoạt động ở nơi nguy hiểm thì khó tránh khỏi tai nạn.
言必信, 行必果 Ngôn tát tín, hành tất quả – Lời nói phải được tin, hành động phải có kết quả, nói phải suy nghĩ cân nhắc, hành động phải kiên quyết
言輕休勸人, 力小休拉架 Ngôn khinh hưu khuyến nhân, lực tiểu hưu lạp giá – Lời nói không có sức nặng và sức lực yếu kém thì đừng khuyên can người khác, không nên ôm lấy những việc không làm nổi.
念完了經打和尚 Niệm hoàn liễu kinh đả hoà thượng – Tụng hết kinh, đánh thầy tu. Vô ơn bạc nghĩa, lấy oán trả ơn.
逆水行舟 Nghịch thuỷ hành chu – Chèo thuyền ngược nước
凡事留一綫, 日后好相見 Phàm sự lưu nhất tuyến, nhật hậu hảo tương kiến – Ai ơi xử sự lưu tình. Mai ngày gặp lại còn mình với ta.
風聲鶴唳 Phong thanh hạc lệ – tiếng gió thổi, tiếng hạc kêu
夫妻本是同林鳥, 大難臨頭各自飛 Phu thê bản thị đồng lâm điểu, đại nạn lâm đầu các tự phi – Vợ chồng vốn như chim ở chung một rừng, đại hoạ đến mỗi người tự bay đi. Vợ chồng vốn thân thiết, nhưng đến khi gặp đại hoạ tức là chết, thì tự mình lo chống chọi với cái chết.
佛烧一柱香, 人争一口氣 Phật thiêu nhất trụ hương, nhân tranh nhất khẩu khí – Phật không chịu để người ta chỉ thắp một nén hương; người phải tranh khẩu khí. Người phải có chí vươn lên để không thua kém người khác.
丰年莫忘歉年苦, 飽時莫忘飢時難 Phong niên mạc vong khiếm niên khổ, bão thời mạc vong cơ thời nan – Năm đầu được mùa đừng quên năm sau thất bát, khi no đủ thì đừng quên lúc cơ hàn. Giàu sang nhớ lúc cơ hàn.
瓜到熟时蒂自落 Qua đáo thục thời đế tự lạc – Dưa đến lúc chín, cuống tự rụng. Điều kiện chín muồi, thời cơ đã đến.
官大一級压壓死人 Quan đại nhất cấp áp tử nhân – Quan hơn một cấp ép chết người. Dùng mệnh lệnh hành chính cưỡng bức người dưới phải thi hành.
君子报仇, 十年不晚 Quân tử báo thù, thập niên bất vãn – Đối với người quân tử, mười năm mới trả được mối thù cũng không có gì là muộn cả.
貴人抬眼看, 便是福星 臨 Quý nhân đài nhãn khán, tiện thị phúc tinh lâm –  Quý nhân để mắt tới là dịp phúc tinh chiếu rọi.
貴人多忘事 Quý nhân đa vong sự – Quý nhân thường quên sự việc. Thường dùng để châm biếm, chế giễu người hay quên.
山雨欲来風满楼 Sơn vũ dục lai phong mãn lầu – Cơn giông trước lúc mưa nguồn. Trước khi xảy ra sự việc lớn thường có những biến cố báo hiệu bất thường.
山山有老虎, 处处有强人 Sơn sơn hữu lão hổ, xứ xứ hữu cường nhân – Núi nào cũng có hổ, vùng nào cũng có nhân tài
山不在高有仙則名

水不在深有龍則灵

Sơn bất tại cao hữu tiên tắc danh ,Thuỷ bất tại thâm hữu long tắc linh – Núi không cứ ở chỗ cao, có tiên ở tất có danh. Nước không cứ gì sâu có rồng ở tất thiêng.
士可殺而不可辱 Sĩ khả sát nhi bất khả nhục – Người có khí tiết thà chết không chịu nhục. Thà chết vinh hơn sống nhục.
事在人為 Sự tại nhân vi – Mưn sự tại nhân
細水長流 Tế thuỷ trường lưu – Nước chảy nhỏ thì chảy dài; Biết cách sử dụng tiết kiệm thì không bao giờ thiếu.
他方求食 Tha phương cầu thực
亲戚是把鋸, 你有来, 我有去 Thân thích thị bả cứ, nhĩ hữu lai, ngã hữu khứ – Họ hàng là cái cưa, người kéo qua, ta kéo lại. Quan hệ họ hàng như kéo cưa, bên này tới thăm bên kia, bên kia ắt phải đáp lễ.
十个梅子九个酸, 十个官儿九个貪 Thập cá mai tử cửu cá toan, thập cá quan nhi cửu cá tham – Mười trái mơ, chín trái chua; mười vị quan, chín vị tham. Hiếm có vị quan nào không tham tiền.
十年樹木, 百年樹人 Thập niên thụ mộc, bác niên thụ nhân – (Vì lợi ích) mười năm trồng cây, trăm năm trồng người .
屎壳郎喷嚏, 满嘴喷粪 Thỉ xác lang phún đế, mãn chuỷ phún phấn – Bọ hung hắt hơi, phun ra toàn cứt. Châm biếm kẻ nói năng bậy bạ, không ngửi được.
时到天亮方好睡, 人到来才学乖 Thời đáo thiên lượng phương hảo thuỵ, nhân đáo lai tài học quai – Ngủ đến sáng bạch mới là ngon giấc. Người đến tuổi già mới thấu sự đời. Người sống càng nhiều tuổi càng hiểu rõ nhân tình thế thái.
是福不是祸, 是祸躲不过 Thị phúc bất thị hoạ, thị hoạ đoá bất quá – Là phúc không phải hoạ, là hoạ tránh chẳng qua. Hoạ phúc khó lường, hết bề né tranh tai hoạ.
天作孽犹可违, 自作孽不可逭 Thiên tác nghiệt do khả vi, tự tác nghiệt bất khả hoán – Trời gây hoạ còn có thể tránh, tự gây tội chẳng thể trốn. Có thể tránh né thiên tai, còn tội lỗi do mình gây ra thì không thể trốn tránh trách nhiệm.
天无三日雨, 人没一世穷 Thiên vô tam nhật vũ, nhân một nhất thế cùng – Trời không mưa liền ba ngày, người không nghèo khổ suốt đời .
天有不側風云, 人有旦夕祸福 Thiên hữu bất trắc phong vân, nhân hữu đãn tịch hoạ phúc – Trời có mưa gió khó đoán, người có hoạ phúc sớm chiều. Hoạ phúc của con người xảy đến nhanh chóng và bất ngờ khó đoán.
識時务者為俊杰 Thức thời vụ giả vi tuấn kiệt – Hiểu thời thế mới là người giỏi
上賊船易, 下賊船難 Thượng tặc thuyền di, hạ tặc thuyền nan – Lên thuyền giặc dễ, rời thuyền giặc khó. Đi theo kẻ xấu thì dễ, rời bỏ chúng thì khó.
上司放个屁,下属唱台戲 Thượng ti phóng cá tí, hạ thuộc xướng đài hí – Quan vừa khẽ ho, lính vội lo thuốc.
做到老, 学到老 Tố đáo lão, học đáo lão – Làm đến già, học đến già
中飽私囊 Trung bão tư nang – Kẻ trung gian tham ô tư túi.
四海皆兄弟 Tứ hải giai huynh đệ
处女守身, 处士守名 Xử nữ thủ thân, xử sĩ thủ danh – Gái chưa chồng giữ mình, kẻ sĩ chưa làm quan giữ danh.
運筹帷幄 Vận trù duy ác – bày mưu tính kế
万般皆是命, 半点不由人 Vạn ban giai thị mệnh, bán điểm bất do nhân – Hết thảy đều do số mệnh, chẳng chút nào do người
為善最樂 Vi thiện tối lạc – Làm điều thiện là vui nhất.

Đ

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

Diễn ca 214 BỘ THỦ CHỮ HÁN

https://i2.wp.com/g.udn.com.tw/community/img/PSN_ARTICLE/surpanp/f_2156900_1.jpg

  1. MỘC (木) – cây, THỦY (水) – nước, KIM (金) – vàng
  2. HỎA (火) – lửa, THỔ (土) – đất, NGUYỆT (月)- trăng, NHẬT (日) – trời
  3. XUYÊN (川) – sông, SƠN (山) – núi, PHỤ (阜) – đồi
  4. TỬ (子) – con, PHỤ (父) – bố, NHÂN (人) – người, SỸ (士) – quan
  5. MIÊN (宀) – mái nhà, HÁN (厂) – sườn non
  6. NGHIỄM (广) – hiên, HỘ (戶) – cửa, cổng – MÔN (門), LÝ (里) – làng
  7. CỐC (谷)- thung lũng, HUYỆT (穴)- cái hang
  8. TỊCH (夕) – khuya, THẦN (辰) – sớm (4), Dê – DƯƠNG (羊), HỔ(虍) – hùm
  9. NGÕA (瓦) – ngói đất, PHẪU (缶) – sành nung
  10. Ruộng – ĐIỀN (田), thôn – ẤP 邑 (5), què – UÔNG (尢), LÃO(老) – già
  11. DẪN 廴- đi gần, SƯỚC 辶 – đi xa
  12. BAO 勹 – ôm, TỶ 比 – sánh, CỦNG 廾 – là chắp tay
  13. ĐIỂU 鳥 – chim, TRẢO 爪 – vuốt, PHI 飛 – bay
  14. TÚC 足 – chân, DIỆN 面 – mặt, THỦ 手 – tay, HIỆT 頁 – đầu
  15. TIÊU 髟 là tóc, NHI 而là râu
  16. NHA 牙 – nanh, KHUYỂN 犬 – chó, NGƯU 牛- trâu, GIÁC 角 – sừng
  17. DỰC 弋 – cọc trâu, KỶ 己 – dây thừng
  18. QUA 瓜 – dưa, CỬU 韭 – hẹ, MA 麻 – vừng, TRÚC竹 – tre
  19. HÀNH 行 – đi, TẨU 走 – chạy, XA 車 – xe
  20. MAO 毛 – lông, NHỤC 肉 – thịt, Da 皮 – Bì, CỐT 骨 – xương.
  21. KHẨU (口) là miệng, Xỉ (齒) là răng
  22. Ngọt CAM 甘, mặn LỖ 鹵, dài TRƯỜNG 長, kiêu CAO 高
  23. CHÍ (至) là đến, NHẬP (入) là vào
  24. BỈ (匕) môi, CỮU (臼) cối, ĐAO (刀) dao, MÃNH (皿) bồn
  25. VIẾT (曰) rằng, LẬP (立) đứng, lời NGÔN (言)
  26. LONG (龍) rồng, NGƯ (魚) cá, QUY (龜) con rùa rua`
  27. LỖI (耒) cày ruộng, TRỈ (黹) thêu thùa

HUYỀN (玄) đen, YÊU (幺) nhỏ, MỊCH (糸) tơ, HOÀNG (黃) vàng

  1. CÂN (斤) rìu, THẠCH (石) đá, THỐN (寸) gang
  2. NHỊ 二 hai, BÁT 八 tám, PHƯƠNG 方 vuông, THẬP 十 mười
  3. NỮ (女) con gái, NHÂN (儿) chân người
  4. KIẾN (見) nhìn, MỤC (目) mắt, XÍCH (彳) dời chân đi
  5. Tay cầm que gọi là CHI (支 )
  6. Dang chân là BÁT (癶), cong thì là Tư (厶)
  7. Tay cầm búa gọi là THÙ (殳)
  8. KHÍ (气) không, PHONG (風) gió, VŨ (雨) mưa, TỀ (齊) đều
  9. LỘC (鹿) hươu, MÃ (馬) ngựa, THỈ (豕) heo
  10. Sống SINH (生), LỰC (力) khoẻ, ĐÃI (隶) theo bắt về
  11. VÕNG (网) là lưới, CHÂU (舟) thuyền bè
  12. HẮC (黑) đen, BẠCH (白) trắng, XÍCH (赤) thì đỏ au
  13. Thực (食) đồ ăn, Đấu (鬥) đánh nhau
  14. Thỉ (矢) tên, Cung (弓) nỏ, Mâu (矛) mâu, Qua (戈) đòng
  15. Đãi (歹) xương, Huyết (血) máu, Tâm (心) lòng
  16. Thân 身 mình, Thi 尸 xác, Đỉnh 鼎 chung, Cách 鬲 nồi
  17. Khiếm (欠) thiếu thốn, Thần (臣) bầy tôi
  18. Vô (毋) đừng, Phi (非) chớ, Mãnh (黽) thời ba ba
  19. Nhữu (禸) chân, Thiệt (舌) lưỡi, Cách (革) da
  20. Mạch (麥) mỳ, HÒA (禾) lúa, Thử (黍) là cây ngô
  21. Tiểu (小) là nhỏ, Đại (大) là to
  22. Tường 爿 giường, Suyễn 舛 dẫm, Phiến 片 tờ, Vi (韋) vây
  23. TRỈ (夂) bàn chân, TUY (夊) rễ cây
  24. TỰ (自) từ, TỴ (鼻) mũi, NHĨ (耳) tai, THỦ (首) đầu.
  25. THANH (青) xanh, THẢO (艹) cỏ, SẮC (色) màu
  26. TRĨ (豸) loài hổ báo, KỆ (彑) đầu con heo.
  27. THỬ (鼠) là chuột, rất sợ mèo
  28. Hương 香 thơm, Mễ 米gạo, Triệt 屮 rêu, Dụng 用 dùng.
  29. ĐẤU (斗) là cái đấu để đong
  30. Chữ CAN (干) lá chắn, chữ CÔNG (工) thợ thuyền.
  31. THỊ (示) bàn thờ cúng tổ tiên,
  32. NGỌC (玉) là đá quý, BỐI (貝) tiền ngày xưa.
  33. ĐẬU (豆) là bát đựng đồ thờ
  34. SƯỞNG (鬯) chung rượu nghệ, DẬU (酉) vò rượu tăm.
  35. Y (衣) là áo, CÂN (巾) là khăn
  36. HỰU (又) bàn tay phải, CHỈ (止) chân tạm dừng.
  37. ẤT (乙) chim én, TRÙNG (虫) côn trùng
  38. CHUY(隹) chim đuôi ngắn, VŨ (羽) lông chim trời.
  39. QUYNH (冂) vây 3 phía bên ngoài
  40. VI (囗) vây bốn phía, KHẢM (凵) thời hố sâu
  41. PHỐC (攴) đánh nhẹ, THÁI (采) hái rau
  42. KỶ (几) bàn, DUẬT (聿) bút, TÂN (辛) dao hành hình.
  43. VĂN (文) là chữ viết, văn minh
  44. CẤN (艮) là quẻ Cấn, giống hình bát cơm.
  45. Ma là QUỶ (鬼), tiếng là ÂM (音),
  46. CỔ (鼓) là đánh trống, DƯỢC (龠) cầm sáo chơi.
  47. THỊ (氏) là họ của con người,
  48. BỐC (卜) là xem bói, NẠCH (疒) thời ốm đau.
  49. Bóng là SAM (彡), vạch là HÀO (爻)
  50. Á (襾) che, MỊCH (冖) phủ, SƠ (疋) ĐẦU (亠) nghĩa nan.
  51. SỔ (丨) PHẾT (丿) MÓC (亅) CHỦ (丶) nét đơn,
  52. HỄ 匸 PHƯƠNG  匚BĂNG 冫 TIẾT 卩, thì dồn nét đôi.
  53. VÔ (无) là không, NHẤT (一) mộ thôi
  54. Diễn ca bộ thủ muôn đời không quên.

 

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

Chu tử trị gia cách ngôn – 朱子治家格言

朱子治家格言

https://i2.wp.com/pic12.nipic.com/20110226/1319350_143018530122_2.jpg

黎明即起,灑掃庭除,要內外整潔

既昏便息,關鎖門戶,必親自檢點

一粥一飯,當思來處不易.

半絲半縷,恆念物力維艱。

宜未雨而綢繆,毋臨渴而掘井。

自奉必須儉約,宴客切勿留連。

器具質而潔,瓦缶勝金玉。

飲食約而精,園蔬勝珍饈。

勿營華屋,勿謀良田。

三姑六婆,實淫盜之媒.

婢美妾嬌,非閨房之福。

奴僕勿用俊美,妻妾切忌艷妝。

祖宗雖遠,祭祀不可不誠.

子孫雖愚,經書不可不讀。

居身務期質樸,教子要有義方。

勿貪意外之財,勿飲過量之酒。

與肩挑貿易,勿佔便宜.

見貧苦親鄰,須多溫恤。

刻薄成家,理無久享.

倫常乖舛,立見消亡。

兄弟叔侄,須多分潤寡.

長幼內外,宜法屬辭嚴。

聽婦言,乖骨肉,豈是丈夫.

重資財,薄父母,不成人子。

嫁女擇佳婿,毋索重聘.

娶媳求淑女,毋計厚奩。

見富貴而生讒容者,最可恥.

遇貧窮而作驕態者,賤莫甚。

居家戒爭訟,訟則終凶。

處世戒多言,言多必失。

毋恃勢力而凌逼孤寡,

勿貪口腹而恣殺生禽。

乖僻自是,悔誤必多.

頹惰自甘,家道難成。

狎昵惡少,久必受其累.

屈誌老成,急則可相依。

輕聽發言,安知非人之譖訴,

當忍耐三思.

因事相爭,安知非我之不是,

須平心遭暗想。

施惠勿念,受恩莫忘。

凡事當留余地,得意不宜再往。

人有喜慶,不可生妒忌心。

人有禍患,不可生喜幸心。

善欲人見,不是真善.

惡恐人知,便是大惡。

見色而起淫心,報在妻女.

匿怨而用暗箭,禍延子孫。

家門和順,雖饔飧不繼,

亦有余歡.

國課早完,即囊橐無余,

自得至樂

讀書誌在聖賢,為官心存君國。

守分安命,順時聽天。

為人若此,庶乎近焉。

Lê minh tức khởi sái tảo đình trừ, yếu nội ngoại chỉnh khiết

Ký hôn tiện tức, quan tỏa môn hộ, tất thân tự kiểm điểm. Nhất chúc nhất phạn, đương tư lai xứ bất dị

Bán ty bán lũ, hằng niệm vật lực duy nan

Nghi vị vũ nhi trù mậu, vô lâm khát nhi quật tỉnh.

Tự phụng tất tu kiệm ước, yến khách thiết vật lưu liên.

Khí cụ chất nhi khiết, ngõa phẫu thắng kim ngọc

Ẩm thực ước nhi tinh, viên sơ thắng trân tu

Vật doanh hoa ốc, vật mưu lương điền.

Tam cô lục bà, thật dâm đạo chi môi

Tỳ mỹ thiếp kiều, phi khuê phòng chi phúc

Nô bộc vật dụng tuấn mỹ, thê thiếp thiết kỵ diễm trang.

Tổ tông tuy viễn, tế tự bất khả bất thành

Tử tôn tuy ngu, kinh thư bất khả bất độc.

Cư thân vụ kỳ chất phác, giáo tử yếu hữu nghĩa phương

Vật tham ý ngoại chi tài, vật ẩm quá lượng chi tửu

Dữ kiên khiêu mậu dịch, vật chiếm tiện nghi.

Khắc bạc thành gia, lý vô cửu hưởng

Luân thường quai suyến, lập kiến tiêu vong.

Huynh đệ thúc điệt, tu đa phân nhuận quả

Trưởng ấu nội ngoại, nghi pháp thuộc từ nghiêm.

Thính thê ngôn, quai cốt nhục, khởi thị trượng phu.

Trọng tư tài, bạc phụ mẫu, bất thành nhân tử.

Giá nữ trạch giai tế, vô sách trọng sính.

Thú tức cầu thục nữ, vô kế hậu liêm.

Kiến phú quý nhi sinh siểm dung giả, tối khả sỉ.

Ngộ bần cùng nhi tác kiêu thái giả, tiện mạc thậm.

Cư gia giới tranh tụng, tụng tắc chung hung.

Xứ thế giới đa ngôn, ngôn đa tất thất.

Vô thị thế lực nhi lăng bức cô quả.

Vật tham khẩu phúc nhi tứ sát sinh cầm.

Quai tịch tự thị, hối ngộ tất đa

Đồi nọa tự cam, gia đạo nan thành

Áp nặc ác thiểu, cửu tất thụ kỳ lụy

Khuất chí lão thành cấp tắc khả tương y

Khinh thính phát ngôn, an tri phi nhân chi sàm tố, đương nhẫn nại tam tư

Nhân sự tương tranh, an tri phi ngã chi bất thị, tu bình tâm ám tướng

Thi huệ vô niệm, thụ ân mạc vong

Phàm sự đương lưu dư địa, đắc ý bất nghi tái vãng.

Nhân hữu hỷ khánh, bất khả sinh đố kỵ tâm

Nhân hữu họa hoạn, bất khả sinh hỷ hạnh tâm.

Thiện dục nhân kiến, bất thị chân thiện

Ác khủng nhân tri, tiện thị đại ác

Kiến sắc nhi khởi dâm tâm, báo tại thê nữ

Nặc oán nhi dụng ám tiễn, họa đình tử tôn.

Gia môn hòa thuận, tuy ung san bất kế , diệc hữu dư hoan

Quốc khóa tảo hoàn, tắc năng tháo vô dư, tự đắc chí lạc.

Độc thư chí tại thánh hiền, vi quan tâm tồn quân quốc

Thủ phân an mệnh, thuận thời thính thiên.

Vi nhân nhược thử, thứ hồ cận yên

1 Mờ sáng phải dậy, rảy quét sân hè, cốt cho trong ngoài đều sạch sẽ.

  1. Đêm đến khi đi ngủ , đóng khóa cửa ngõ, tất phải tự mình đi coi nom.
  2. Một húp cháo , một hột cơm, nên nghĩ kiếm được không phải là dễ.
  3. Một đoạn tơ, một sợi vải , phải nhớ làm ra rất khó khăn.
  4. Phòng bị từ lúc chưa mưa , chớ để lúc khát mới đào giếng.
  5. Tự phụng mình nên kiệm ước, thết đãi khách chớ lưu liên.
  6. Đồ dùng mộc mạc mà sạch sẽ, chậu sành hơn vàng ngọc.
  7. Ăn uống bớt ít mà tinh vi, rau vườn hơn thịt cá.
  8. Chớ làm nhà đẹp.
  9. Chớ mưu ruộng tốt.
  10. Tam cô lục bà đó là mồi dâm đạo.
  11. Tỳ xinh thiếp đẹp ,không phải phúc khuê phòng.
  12. Tôi tớ chớ dùng kẻ đẹp trai.
  13. Thê thiếp nên cấm sự làm dáng.
  14. Tổ tôn dù xa,tế tự vẫn phải thành.
  15. Con cháu dù ngu ,kinh sách vẫn phải dậy.
  16. Xửmình phải nên cần kiệm mộc mạc.
  17. Dạy con cần có nghĩa lý phép tắc.
  18. Chớ tham của bắt được.
  19. Chớ uống rượu qua say.
  20. Đối với những kẻ gồng gánh,bán chác chớ chiếm phần lợi về mình.
  21. Thấy những kẻ thân lân cùng khổ, nên đem lòng thể tuất.
  22. Khắc bạc làm nên giàu có , không hưởng được lâu.
  23. Ăn ở trái cả luân thường , tiêu duyệt trông thấy.
  24. Anh, em, chú, cháu nên nhiều sẻ thiếu bù.
  25. Lớn bé trong nhà nên ở nghiêm nói thẳng.
  26. Nghe lời vợ trái tình cốt nhục, không phải trượng phu.
  27. Trọng tiền của,bạc với mẹ cha là con bất hiếu.
  28. Gả con chọn rể hiền, chớ đòi nặng lễ.
  29. Lấy dâu cần gái nết,chớ hám của nhiều.
  30. Thấy kẻ giầu sang mà ra dáng nịnh hót,xấu hổ gì bằng.
  31. Gặp người nghèo khổ mà làm bộ kiêu căng, hèn mạt quá lắm.
  32. Ở trong nhà chớ nên tranh kiện,đã kiện tất chẳng ra gì.
  33. Ra với đời chớ có nói nhiều, hay nói có khi lầm lỡ.
  34. Chớ cậy thế lực mà hiếp bách những người cô quả.
  35. Chớ ham ăn uống mà giết hại các giống chim muông.
  36. Gàn giở tự cho là phải,tất nhiều sự lầm lỡ.
  37. Hènkém cam chịu một bề ,không sao mong khá được.
  38. Thân kẻ ác thiếu ,lâu ngày tất lụy đến mình.
  39. Chịu khuất bậc lão thành, lúc cấp có thể nương nhờ.
  40. Nghe sao nói thế ,biết đâu chẳng là người gièm pha vậy nên nghĩ kỹ.
  41. Nhân việc tranh nhau,biết đâu chính mình không phải,nên phải suy xét.
  42. Làm ơn cho người chớ nghĩ.
  43. Chịu ơn người chớ nên quên.
  44. Làm việc gì chớ làm quá.
  45. Khi đắc ý thì nên thôi.
  46. Người có việc vui mừng chớ đem lòng ghen ghét.
  47. Người có việc tai vạ chớ đem lòng vui mừng.
  48. Làm việc thiện mong cho người thấy, việc thiện ấy không thực.
  49. Làm việc ác chỉ sợ người biết,điều ác ấy thực là to.
  50. Thấy gái đẹp mà nổi lòng dâm,vợ con chịu ngay ác báo.
  51. Giấu sự oán mà ngầm làm hại, con cháu phải chịu vạ lây
  52. Cửa nhà hòa thuận dẫu đói cũng vui.
  53. Đọc sách chí ở thánh hiền.
  54. Làm quan lòng nghĩ đến dân nước.

Làm người được như thế ,có thể gọi là người.

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.