RSS

Ngụ trung nhật ký

http://www.bqllang.gov.vn/images/tintuc/20.11.2012/di_thu_3_.jpg

無題

身体在獄中
精神在獄外
欲成大事業
精神更要大

Vô đề

Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại
Dục thành đại sự nghiệp
Tinh thần cánh yếu đại

開卷

老夫原不愛吟詩
因為囚中無所為
聊借吟詩消永日
且吟且待自由時

Khai quyển

Lão phu nguyên bất ái ngâm thi
Nhân vị tù trung vô sở vi
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
Thả ngâm thả đãi tự do thì

在足榮街被扣留

足榮卻使余蒙辱
故意遲延我去程
間諜嫌疑空捏造
把人名譽白犧牲

Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu

Túc Vinh khước sử dư mông nhục
Cố ý trì diên ngã khứ trình
Gián điệp hiềm nghi không niết tạo
Bả nhân danh dự bạch hy sinh

入靖西縣獄

獄中舊犯迎新犯
天上晴雲逐雨雲
晴雨浮雲飛去了
獄中留住自由人

Nhập Tĩnh Tây huyện ngục

Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thượng tình vân trục vũ vân
Tình vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lưu trú tự do nhân

世路難

走遍高山與峻岩
那知平路更難堪
高山遇虎終無恙
平路逢人卻被監
余原代表越南民
擬到中華見要人
無奈風波平地起
送余入獄作嘉賓
忠誠我本無心疚
卻被嫌疑做漢奸
處世原來非易易
而今處世更難難

Thế lộ nan

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham
Na tri bình lộ cánh nan kham
Cao sơn lộ hổ chung vô dạng
Bình lộ phùng nhân khước bị giam

Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân
Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân
Vô nại phong ba bình địa khởi
Tống dư nhập ngụ tác gia tân

Trung thành ngã bản vô tâm cứu
Khước bị hiềm nghi tố Hán gian
Xử thế nguyên lai phi dị dị
Nhi kim xử thế cánh nan nan.

太陽每早從牆上
照著龍門門未開
籠裡現時還黑暗
光明卻已面前來

早起人人爭獵虱
八鐘響了早餐開
勸君且吃一個飽
否極之時必泰來

Tảo

Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng
Chiếu trước lung môn môn vị khai
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.

Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt
Bát chung hưởng liễu tảo xan khai
Khuyến quân thả ngật nhất cá bão
Bĩ cực chi thì tất thái lai.

獄中午睡真舒服
一睡昏昏幾句鐘
夢見乘龍天上去
醒時才覺臥籠中

Ngọ

Ngục trung ngọ thụy chân như phục
Nhất thụy hôn hôn kỷ cú chung
Mộng kiến thừa long thiên thượng khứ
Tỉnh thời tài giác ngọa lung trung

問話

社會的兩極
法官與犯人
官曰你有罪
犯曰我良民
官曰你說假
犯曰我言真
法官性本善
假裝惡狺狺
要入人於罪
卻假意慇懃
這兩極之奸
立著公理神

Vấn thoại

Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: nhĩ hữu tội,
Phạm viết: ngã lương dân;
Quan viết: nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần.

午後

二點開籠換空氣
人人仰看自由天
自由天上神仙客
知否籠中也有仙

Ngọ hậu

Nhị điểm khai lung hoán không khí
Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên
Tự do thiên thượng thần tiên khách
Tri phủ lung trung dã hữu tiên.

晚餐吃了日西沉
處處山歌與樂音
幽暗靖西禁閉室
忽成美術小翰林

Vãn

Vãn xan ngật liễu nhật tây trầm
Xứ xứ sơn ca dữ nhạc âm
U ám Tĩnh Tây cấm bế thất
Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm.

望月

獄中無酒亦無花
對此良宵奈若何
人向窗前看明月
月從窗隙看詩家

Vọng nguyệt

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

學奕棋

閑坐無聊學奕棋
千兵萬馬共驅馳
進攻退守應神速
高才疾足先得之

眼光應大心應細
堅決時時要進攻
錯路雙車也沒用
逢時一卒可成功

雙方勢力本平均
勝利終須屬一人
攻守運籌無漏著
才稱英勇大將軍

Học dịch kỳ

Nhàn tọa vô liêu học dịch kỳ
Thiên binh vạn mã cộng khu trì;
Tấn công thoái thủ ưng thần tốc,
Cao tài tật túc tiên đắc chi.

Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế
Kiên quyết thời thời yếu tấn công
Thác lộ song xa dã một dụng
Phùng thời nhất tốt khả thành công?

Song phương thế lực bản bình quân
Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;
Công thủ vận trù vô lậu trước,
Tài xưng anh dũng đại tướng quân.

走路

走路才知走路難
重山之外又重山
重山登到高峰後
萬里與圖顧盼間

Tẩu lộ

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựu trùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lý dư đồ cố miện gian.

倦鳥歸林尋宿樹
孤雲慢慢度天空
山村少女磨包粟
包粟磨完爐已烘

Mộ

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

早解

一次雞啼夜未闌
群星擁月上秋山
征人已在征途上
迎面秋風陣陣寒

東方白色已成紅
幽暗殘餘早一空
暖氣包羅全宇宙
行人詩興忽加濃

Tảo giải

Nhất thứ kê đề dạ vị lan
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng
U ám tàn dư tảo nhất không
Noãn khí bao la toàn vũ trụ
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.

聞舂米聲

米被舂時很痛苦
既舂之後白如綿
人生在世也這樣
困難是你玉成天

Văn thung mễ thanh

Mễ bị thung thì, hẩn thống khổ,
Ký thung chi hậu, bạch như miên;
Nhân sinh tại thế dã giá dạng,
Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên.

折字

囚人出去或為國
患過頭時始見忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍

Chiết tự

Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.

Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), cho chữ hoặc (或) vào, thành chữ quốc (國). Chữ hoạn (患) bớt phần trên đi thành chữ trung (忠). Thêm bộ nhân (人) đứng vào chữ ưu (憂) trong “ưu sầu” thành chữ ưu (優) trong “ưu điểm”. Chữ lung (籠) bỏ bộ trúc đầu (竹) thành chữ long (龍).

一個賭犯硬了

他身只有骨包皮
痛苦飢寒不可支
昨夜他仍睡我側
今朝他已九泉歸

Nhất cá đổ phạm “ngạnh” liễu

Tha thân chi hữu cốt bao bì
Thống khổ cơ hàn bất khả chi
Tạc dạ tha nhưng thụy ngã trắc
Kim triêu tha dĩ cửu tuyền quy

睡不著

一更二更又三更
輾轉徘徊睡不成
四五更時才合眼
夢魂環繞五尖星

Thuỵ bất trước

Nhất canh … nhị canh… hựu tam canh,
Triển chuyển, bồi hồi, thụy bất thành;
Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn,
Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh.

憶友

昔君送我至江濱
問我歸期指谷新
現在新田已犁好
他鄉我作獄中人

Ức hữu

Tích quân tống ngã chí giang tân,
Vấn ngã quy kỳ, chỉ cốc tân.
Hiện tại tân điền dĩ lê hảo,
Tha hương ngã tác ngục trung nhân.

癩瘡

滿身紅綠如穿錦
成日撈搔似鼓琴
川錦囚中都貴客
鼓琴難友盡知音

Lại sang

Mãn thân hồng lục như xuyên cẩm,
Thành nhật lao tao tự cổ cầm;
Xuyên cẩm, tù trung đô quý khách,
Cổ cầm, nạn hữu tận tri âm

築路夫

餐風浴雨未曾休
慘淡經營築路夫
車馬行人來往者
幾人感謝你功勞

Trúc lộ phu

Xan phong dục vũ vị tằng hưu,
“Thảm đạm kinh doanh” trúc lộ phu;
Xa mã hành nhân lai vãng giả,
Kỷ nhân cảm tạ nhĩ công lao ?

獄丁竊我之士的

一生正直又堅強
攜手同行幾雪霜
恨彼奸人離我倆
長膠我你各凄涼

Ngục đinh thiết ngã chi sĩ-đích

Nhất sinh chính trực hựu kiên cương,
Huề thủ đồng hành kỷ tuyết sương;
Hận bỉ gian nhân ly ngã lưỡng,
Trường giao ngã nhĩ các thê lương.

賓陽獄中孩

Oa…! Oa…! Oaa…!
家怕當兵救國家
所以我年才半歲
要到獄中跟着媽

Tân Dương ngục trung hài

Oa…! Oa…! Oaa…!
Gia phạ đương binh cứu quốc gia;
Sở dĩ ngã niên tài bán tuế,
Yếu đáo ngục trung căn trước ma.

夜半

睡時都像純良漢
醒後才分善惡人
善惡原來無定性
爹由教育的原因

Dạ bán

Thụy thì đô tượng thuần lương hán,
Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân;
Thiện, ác nguyên lai vô định tính,
Đa do giáo dục đích nguyên nhân.

四個月了

一日囚千秋在外
古人之話不差訛
四月非人類生活
使余憔悴十年多

囚為
四月吃不飽
四月睡不好
四月不換衣
四月不洗澡

所以
落了一隻牙
髮白了許多
黑瘦像餓鬼
全身是癩痧

幸而
持久和忍耐
不肯退一分
物質雖痛苦
不動搖精神

Tứ cá nguyệt liễu

“Nhất nhật tù, thiên thu tại ngoại”,
Cổ nhân chi thoại bất sai ngoa!
Tứ nguyệt phi nhân loại sinh hoạt,
Sử dư tiều tụy thập niên đa.

Nhân vị:
Tứ nguyệt ngật bất bão,
Tứ nguyệt thụy bất hảo,
Tứ nguyệt bất hoán y,
Tứ nguyệt bất tẩy tảo.

Sở dĩ:
Lạc liễu nhất chích nha,
Phát bạch liễu hứa đa,
Hắc sấu tượng ngã quỷ,
Toàn thân thị lại sa.

Hạnh nhi:
Trì cửu hoà nhẫn nại,
Bất khẳng thoái nhất phân,
Vật chất tuy thống khổ,
Bất động dao tinh thần.

晚景

玫瑰花開花又謝
花開花謝兩無情
花香透入籠門裡
向在籠人訴不平

Vãn cảnh

Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ,
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình;
Hoa hương thấu nhập lung môn lý,
Hương tại lung nhân tố bất bình.

限制

沒有自由真痛苦
出恭也被人制裁
開籠之時肚不痛
肚痛之時籠不開

Hạn chế

Một hữu tự do chân thống khổ,
Xuất cung dã bị nhân chế tài;
Khai lung chi thì đỗ bất thống,
Đỗ thống chi thì lung bất khai.

睛天

事物循環原有定
雨天之後必晴天
片時宇宙解淋服
萬里山河晒錦氈
日暖風清花帶笑
樹高枝潤鳥爭言
人和萬物都興奮
苦盡甘來理自然

Tình thiên

Sự vật tuần hoàn nguyên hữu định,
Vũ thiên chi hậu tất tình thiên;
Phiến thì vũ trụ giải lâm phục,
Vạn lý sơn hà sái cẩm chiên;
Nhật noãn phong thanh hoa đới tiếu,
Thụ cao chi nhuận điểu tranh nghiên;
Nhân hòa vạn vật đồ hưng phấn,
Khổ tận cam lai, lý tự nhiên.

看千家詩有感

古詩偏愛天然美
山水煙花雪月風
現代詩中應有鐵
詩家也要會衝鋒

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm

Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,
Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong;
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong.

Đ

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

Thành ngữ Hán Việt

飲水思源, 緣木思本 Ẩm thuỷ tư nguyên, duyên mộc tư bổn
萍水相逢 Bình thuỷ tương phùng

Bèo nước gặp nhau –  gặp gỡ tình cờ

干什么,說什么, 買什么,吆喝什么 Cán thập ma, thuyết thập ma, mãi thập ma yêu hát thập ma Làm cái gì thì bàn luận về cái đó, bán gì thì rao to thứ đó; làm nghề gì thì hãy nhắc đến, bàn luận về nghề đó.
眾口難调 Chúng khẩu nan điều

Không thể làm vừa lòng tất cả. Làm dâu trăm họ. Lắm thầy nhiều ma.

只有千日做賊, 没有千日防賊 Chỉ hữu thiên nhật tố tặc, một hữu thiên nhật phòng tặc – Chỉ có ngày ngày làm giặc, khó bề ngàn ngày phòng giặc. Khó đề phòng chu đáo đối với những kẻ xấu.
多年的路走成河, 多年的媳婦熬成婆 Đa niên đích lộ tẩu thành hà, đa niên đích tức phụ ngao thành bà Con đường do người đi nhiều, lâu làm cho mòn đi có thể thành sông, người con dâu sống lâu năm, được rèn luyện nhiều rồi cũng thành mẹ chồng. Sống lâu lên lão làng.
桃紅柳 綠 Đào hồng liễu lục – Cảnh sắc mùa xuân đẹp.
桃李不言, 下自成蹊 Đào lý bất ngôn, hạ tự thành khê – Đào mận không biết tự khoe mình, nhưng nếu nhiều người đến hái thì tự nhiên sẽ thành đường đi dưới gốc cây; chân thành, trung thực thì có thể rung động được người khác;
同仇敌 愾 Đồng thù địch khái – Cùng chung mối thù
雕虫小技 Điêu trùng tiểu kĩ – Tài chỉ vẽ được con giun >Tài cán nhỏ mọn
鋌而走險 Đĩnh nhi tẩu hiểm – Bí quá làm liều
豆腐多了一包水, 空話多了无人信 Đậu hũ đa liễu nhất bao thuỷ, không thoại đa liễu vô nhân tín – Đậu phụ để lâu thì rữa, lời nói suông nhiều chẳng ai tin.
嫁出去的女兒, 撥出去的水 Giá xuất khứ đích nữ nhi, bát xuất khứ đích thuỷ – Gả con gái đi lấy chồng như bát nước hắt đi
家家賣酸酒, 不犯是高手 Gia gia mại toan tửu, bất phạm thị cao thủ – Nhà nhà bán rượu chua, không bị phát hiện mới là giỏi “Giỏi” ở đây ngụ ý: chê trách thủ đoạn gian trá, lừa đảo một cách khôn khéo.
好佛凑一堂, 鴛鴦凑一雙 Hảo Phật tấu nhất đường, uyên ương tấu nhất song  – Tượng phật đẹp nhờ đặt ở gian chính, uyên ương đẹp nhờ hợp từng cặp, từng đôi. Những người tài giỏi nên hợp sức với nhau.
行善得善, 行恶得恶 Hành thiện đắc thiện, hành ác đắc ác

Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo.

黄鼠狼給鷄拜年, 没安好心 Hoàng thử lang cấp kê bái niên, một an hảo tâm – Chồn cáo chúc tết gà, rắp tâm ăn gỏi. Gỉa bộ thân thiện nhằm thực hiện mưu đồ xấu.
渾水越澄越清, 是非越辯越明 Hỗn thuỷ việt trừng việt thanh, thị phi việt biện việt minh – Nước đục càng lắng càng trong, phải trái càng tranh luận càng rõ.
胸有成竹 Hung hữu thành trúc – Có hoạ sĩ đời Tống trước khi đặt bút vẽ cây trúc, đã phác thảo sẵn trong đầu; Định liệu trước. Chủ động.
虚心竹有低頭葉 Hư tâm trúc hữu đê đầu diệp – Trúc rỗng ruột có lá rủ đầu. Người nên khiêm nhường .
有志不在年高, 无志空活百歲 Hữu chí bất tại niên cao, vô  chí không hoạt bách tuế – Có chí chẳng do tuổi tác, không có chí thì trăm tuổi cũng tay không. Người có chí thì cuối cùng sự nghiệp sẽ thành công.
有猫不知猫功劳, 无猫才知老鼠多 Hữu miêu bất tri miêu công lao, vô miêu tài tri lão thử đa – Có mèo không biết công của mèo, không có mèo mới biết nhà lắm chuột. Không biết đánh giá công sức, tác dụng của người khác.
靠山好烧柴, 靠水好吃鱼 Kháo sơn hảo thiêu sài, kháo thuỷ hảo ngật ngư -

Ở núi nhiều củi đốt, gần nước lắm cá ăn. Được hưởng điều kiện đặc biệt thuận lợi của môi trường sinh sống.

見官三分灾 Kiến quan tam phân tai – Gặp quan là gặp tai hoạ. Thời trước người dân gặp quan coi như gặp tai hoạ.

Thua kiện mất quan hai, được kiện mười hai quan chẵn.

可放手時續放手, 得饒人時且饒人 Khả phóng thủ thời tục phóng thủ, đắc nhiêu nhân thời thả nhiêu nhân – Lúc nào cần phải ngừng tay thì nên ngừng tay, khi nào thấy tha thứ được cho người khác thì nên tha thứ. Nể tình nương tay.
鍥而不舍 Khiết nhi bất khả – Kiên trì làm đến cùng. Đã chạm phải chạm cho trót. Đã vót cho trơn.
輕描淡寫 Khinh miêu đạm tả – Khi vẽ pha màu nhạt lại vẽ không đậm nét; qua loa chiếu lệ. Xuê xoà cho xong chuyện.
騎驢看唱本,走着瞧 Kị lư khán xướng bản, tẩu trước tiêu – Cưỡi lừa xem hát, nhẩn nha mà xem. Cứ để xem diễn biến thế nào, rồi mới đưa ra kết luận.
老子偷瓜盗果, 兒子杀人防火 Lão tử thâu qua đảo quả, nhi tử sát nhân phóng hoả – Bố mà trộm cắp, thì con giết người. Người cha có hành động xấu xa, thì con cái sẽ bắt chước cha và phạm tội nặng hơn. Rau nào sâu ấy.
礼在人情在 Lễ tại nhân tình tại – Có lễ vật qua lại thì tình nghĩa sẽ còn. Còn bạc còn tiền còn đề tử.
劣漢争吃, 好漢争氣 Liệt hán tranh thực, hảo hán tranh khí – Kém cỏi tranh ăn, tài giỏi tranh tài. Người ta không thể chỉ vì miếng ăn, mà còn phải cố tạo nên cho mình một chỗ đứng đáng kể trong xã hội.
龍交龍, 鳳交鳳, 老鼠的朋友会打洞 Long giao long, phượng giao phượng, lão thử đích bằng hữu hội đả động – Rồng bay với rồng, phượng múa với phượng, bạn của chuột biết đào ngạch. Người thế nào thì kết giao với loại người thế ấy. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.
量材录用 Lượng tài lục dụng – Bố trí công việc đúng khả năng
馬老无人騎, 人老就受欺 Mã lão vô nhân kỵ, nhân lão tựu thụ khi – Ngựa già chẳng ai buồn cưỡi, người già bị lắm kẻ khinh
猫哭老鼠假慈悲 Miêu khấp lão thử, giá từ bi – Tâm địa độc ác, giả bộ từ bi. Nước mắt cá sấu
眉来眼去 My lai nhãn khứ – Mày lại mắt đi. Nghĩa: lấy mắt mày để tỏ ý ngầm với nhau.Trai gái dùng mắt đưa tình.
男子痴, 一时迷, 女子痴, 没葯醫 Nam tử si, nhất thời mê, nữ tử si, một dược y – Nam si tình chóng qua đi; nữ si tình hết thuốc chữa. Tình cảm yêu đương của nữ giới thường sâu sắc mãnh liệt hơn hẳn nam giới.
男盗女娼 Nam đạo nữ xương – Nam trộm cắp, gái bán điếm; cùng một lũ mèo mả gà đồng
男子三十一枝花, 女子三十老人家 Nam tử tam thập nhất chi hoa, nữ tử tam thập lão nhân gia – Trai ba mươi tuổi đang xoan, gái ba mươi tuổi đã toan về già.
男无酒如旗无風 Nam vô tửu như kỳ vô phong – Đàn ông không uống rượu thì thiếu sắc khí, vẻ linh lợi
一日為師,終身為父 Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ – Một ngày làm thầy, suốt đời là cha. Học ai dù chỉ một ngày, cũng phải tôn kính người ấy như cha suốt đời.
一个香爐一个磬, 一个人一个性 Nhất cá hương lô nhất cá khánh, nhất cá nhân nhất cá tính – Mỗi bát nhang một cái khánh, mỗi người một cá tính. Tính nết mỗi người một khác, giống như ở đình chùa cái bát nhang khác với cái khánh vậy. Chín người mười tính.
人非草木, 豈能无情 Nhân phi thảo mộc, khởi năng vô tình – Người không phải cỏ cây, há lại vô tình. Con người nhất thiết phải có tình cảm.
人凭志氣虎凭威 Nhân bằng chí khí hổ bằng uy – Con người dựa vào chí khí, con hổ dựa vào uy phong.
人生何处不相逢 Nhân sinh hà xứ bất tương phùng – Trong đời, thiếu gì nơi có thể gặp nhau. Có thể sẽ còn gặp lại nhau, vậy hãy giữ cho quan hệ được tốt đẹp, thân thiện.
人在矮檐下, 怎敢不低頭 Nhân tại oải thiểm hạ, chẩm cảm bất đê đầu – Đứng dưới mái nhà thấp thì làm sao có thể ngẩng đầu lên được;dưới quyền của kẻ khác thì phải dằm lòng cam chịu. Há miệng mắc quai.
人直不富, 港直不深 Nhân trực bất phú, cảng trực bất thâm – Người thẳng chẳng giàu, cảng thẳng chẳng sâu.
人无横財不富, 馬无夜草不肥 Nhân vô quảng tài bất phú, mã vô dạ thảo bất phỉ – Người không tiền bất nghĩa chẳng giàu, ngựa không cỏ ăn đêm chẳng béo. Sự giàu có của kẻ bóc lột là nhờ đồng tiền bất nghĩa tạo nên.
人愛富的, 狗咬貧的 Nhân ái phú đích, cẩu giảo bần đích – Người yêu kẻ giàu, chó cắn kẻ nghèo. Người giàu được kính yêu, người nghèo bị khinh rẻ.
人到矮檐下, 怎能不低頭 Nhân đáo oải thiểm hạ, chẩm năng bất đê đầu – Bước qua mái hiên thấp, sao không phải cúi đầu. Bất đắc dĩ phải khuất phụ hoàn cảnh.
人越醜越愛戴花 Nhân việt xú việt ái đới hoa – Người càng xấu càng thích cài hoa. Ai cũng muốn che giấu khuyết điểm của mình.
日出万言, 必有一傷 Nhật xuất vạn ngôn, tất hữu nhất thương – Ngày nói vạn lời, ắt có câu khiến người tổn thương.
兒行千里母擔忧, 母行千里兒不愁 Nhi hành thiên lý mẫu đảm ưu, mẫu hành thiên lý nhi bất sầu – Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu.
兒子是自己的好, 老婆是别人的好 Nhi tử thị tự kỷ đích hảo, lão bà thị biệt nhân đích hảo- Con mình thì hay, vợ người thì đẹp.
任凭風浪起, 稳坐釣魚船 Nhiệm bằng phong lãng khởi, ổn toạ điếu ngư thuyền – Bất kể sống to gió lớn như thế nào vẫn ung dung ngồi câu cá; Không dao động trước khó khăn nguy hiểm.
弱肉强食, 适者生存 Nhược nhục cường thực, thích giả sinh tồn – Yếu làm mồi ăn cho kẻ mạnh, kẻ muốn sống tồn phải trải qua sự chiến thắng kẻ thù địch. Cá lớn nuốt cá bé.
瓦罐不离井上破, 将軍難免陣中亡 Ngoã quán bất ly tỉnh thượng phá, tướng quân nan miễn trận trùng vong – Chậu sành sẽ va vào thành giếng mà vỡ, tướng quân khó tránh bị tử trận. Thường xuyên hoạt động ở nơi nguy hiểm thì khó tránh khỏi tai nạn.
言必信, 行必果 Ngôn tát tín, hành tất quả – Lời nói phải được tin, hành động phải có kết quả, nói phải suy nghĩ cân nhắc, hành động phải kiên quyết
言輕休勸人, 力小休拉架 Ngôn khinh hưu khuyến nhân, lực tiểu hưu lạp giá – Lời nói không có sức nặng và sức lực yếu kém thì đừng khuyên can người khác, không nên ôm lấy những việc không làm nổi.
念完了經打和尚 Niệm hoàn liễu kinh đả hoà thượng – Tụng hết kinh, đánh thầy tu. Vô ơn bạc nghĩa, lấy oán trả ơn.
逆水行舟 Nghịch thuỷ hành chu – Chèo thuyền ngược nước
凡事留一綫, 日后好相見 Phàm sự lưu nhất tuyến, nhật hậu hảo tương kiến – Ai ơi xử sự lưu tình. Mai ngày gặp lại còn mình với ta.
風聲鶴唳 Phong thanh hạc lệ – tiếng gió thổi, tiếng hạc kêu
夫妻本是同林鳥, 大難臨頭各自飛 Phu thê bản thị đồng lâm điểu, đại nạn lâm đầu các tự phi – Vợ chồng vốn như chim ở chung một rừng, đại hoạ đến mỗi người tự bay đi. Vợ chồng vốn thân thiết, nhưng đến khi gặp đại hoạ tức là chết, thì tự mình lo chống chọi với cái chết.
佛烧一柱香, 人争一口氣 Phật thiêu nhất trụ hương, nhân tranh nhất khẩu khí – Phật không chịu để người ta chỉ thắp một nén hương; người phải tranh khẩu khí. Người phải có chí vươn lên để không thua kém người khác.
丰年莫忘歉年苦, 飽時莫忘飢時難 Phong niên mạc vong khiếm niên khổ, bão thời mạc vong cơ thời nan – Năm đầu được mùa đừng quên năm sau thất bát, khi no đủ thì đừng quên lúc cơ hàn. Giàu sang nhớ lúc cơ hàn.
瓜到熟时蒂自落 Qua đáo thục thời đế tự lạc – Dưa đến lúc chín, cuống tự rụng. Điều kiện chín muồi, thời cơ đã đến.
官大一級压壓死人 Quan đại nhất cấp áp tử nhân – Quan hơn một cấp ép chết người. Dùng mệnh lệnh hành chính cưỡng bức người dưới phải thi hành.
君子报仇, 十年不晚 Quân tử báo thù, thập niên bất vãn – Đối với người quân tử, mười năm mới trả được mối thù cũng không có gì là muộn cả.
貴人抬眼看, 便是福星 臨 Quý nhân đài nhãn khán, tiện thị phúc tinh lâm –  Quý nhân để mắt tới là dịp phúc tinh chiếu rọi.
貴人多忘事 Quý nhân đa vong sự – Quý nhân thường quên sự việc. Thường dùng để châm biếm, chế giễu người hay quên.
山雨欲来風满楼 Sơn vũ dục lai phong mãn lầu – Cơn giông trước lúc mưa nguồn. Trước khi xảy ra sự việc lớn thường có những biến cố báo hiệu bất thường.
山山有老虎, 处处有强人 Sơn sơn hữu lão hổ, xứ xứ hữu cường nhân – Núi nào cũng có hổ, vùng nào cũng có nhân tài
山不在高有仙則名

水不在深有龍則灵

Sơn bất tại cao hữu tiên tắc danh ,Thuỷ bất tại thâm hữu long tắc linh – Núi không cứ ở chỗ cao, có tiên ở tất có danh. Nước không cứ gì sâu có rồng ở tất thiêng.
士可殺而不可辱 Sĩ khả sát nhi bất khả nhục – Người có khí tiết thà chết không chịu nhục. Thà chết vinh hơn sống nhục.
事在人為 Sự tại nhân vi – Mưn sự tại nhân
細水長流 Tế thuỷ trường lưu – Nước chảy nhỏ thì chảy dài; Biết cách sử dụng tiết kiệm thì không bao giờ thiếu.
他方求食 Tha phương cầu thực
亲戚是把鋸, 你有来, 我有去 Thân thích thị bả cứ, nhĩ hữu lai, ngã hữu khứ – Họ hàng là cái cưa, người kéo qua, ta kéo lại. Quan hệ họ hàng như kéo cưa, bên này tới thăm bên kia, bên kia ắt phải đáp lễ.
十个梅子九个酸, 十个官儿九个貪 Thập cá mai tử cửu cá toan, thập cá quan nhi cửu cá tham – Mười trái mơ, chín trái chua; mười vị quan, chín vị tham. Hiếm có vị quan nào không tham tiền.
十年樹木, 百年樹人 Thập niên thụ mộc, bác niên thụ nhân – (Vì lợi ích) mười năm trồng cây, trăm năm trồng người .
屎壳郎喷嚏, 满嘴喷粪 Thỉ xác lang phún đế, mãn chuỷ phún phấn – Bọ hung hắt hơi, phun ra toàn cứt. Châm biếm kẻ nói năng bậy bạ, không ngửi được.
时到天亮方好睡, 人到来才学乖 Thời đáo thiên lượng phương hảo thuỵ, nhân đáo lai tài học quai – Ngủ đến sáng bạch mới là ngon giấc. Người đến tuổi già mới thấu sự đời. Người sống càng nhiều tuổi càng hiểu rõ nhân tình thế thái.
是福不是祸, 是祸躲不过 Thị phúc bất thị hoạ, thị hoạ đoá bất quá – Là phúc không phải hoạ, là hoạ tránh chẳng qua. Hoạ phúc khó lường, hết bề né tranh tai hoạ.
天作孽犹可违, 自作孽不可逭 Thiên tác nghiệt do khả vi, tự tác nghiệt bất khả hoán – Trời gây hoạ còn có thể tránh, tự gây tội chẳng thể trốn. Có thể tránh né thiên tai, còn tội lỗi do mình gây ra thì không thể trốn tránh trách nhiệm.
天无三日雨, 人没一世穷 Thiên vô tam nhật vũ, nhân một nhất thế cùng – Trời không mưa liền ba ngày, người không nghèo khổ suốt đời .
天有不側風云, 人有旦夕祸福 Thiên hữu bất trắc phong vân, nhân hữu đãn tịch hoạ phúc – Trời có mưa gió khó đoán, người có hoạ phúc sớm chiều. Hoạ phúc của con người xảy đến nhanh chóng và bất ngờ khó đoán.
識時务者為俊杰 Thức thời vụ giả vi tuấn kiệt – Hiểu thời thế mới là người giỏi
上賊船易, 下賊船難 Thượng tặc thuyền di, hạ tặc thuyền nan – Lên thuyền giặc dễ, rời thuyền giặc khó. Đi theo kẻ xấu thì dễ, rời bỏ chúng thì khó.
上司放个屁,下属唱台戲 Thượng ti phóng cá tí, hạ thuộc xướng đài hí – Quan vừa khẽ ho, lính vội lo thuốc.
做到老, 学到老 Tố đáo lão, học đáo lão – Làm đến già, học đến già
中飽私囊 Trung bão tư nang – Kẻ trung gian tham ô tư túi.
四海皆兄弟 Tứ hải giai huynh đệ
处女守身, 处士守名 Xử nữ thủ thân, xử sĩ thủ danh – Gái chưa chồng giữ mình, kẻ sĩ chưa làm quan giữ danh.
運筹帷幄 Vận trù duy ác – bày mưu tính kế
万般皆是命, 半点不由人 Vạn ban giai thị mệnh, bán điểm bất do nhân – Hết thảy đều do số mệnh, chẳng chút nào do người
為善最樂 Vi thiện tối lạc – Làm điều thiện là vui nhất.

Đ

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

Diễn ca 214 BỘ THỦ CHỮ HÁN

http://g.udn.com.tw/community/img/PSN_ARTICLE/surpanp/f_2156900_1.jpg

  1. MỘC (木) – cây, THỦY (水) – nước, KIM (金) – vàng
  2. HỎA (火) – lửa, THỔ (土) – đất, NGUYỆT (月)- trăng, NHẬT (日) – trời
  3. XUYÊN (川) – sông, SƠN (山) – núi, PHỤ (阜) – đồi
  4. TỬ (子) – con, PHỤ (父) – bố, NHÂN (人) – người, SỸ (士) – quan
  5. MIÊN (宀) – mái nhà, HÁN (厂) – sườn non
  6. NGHIỄM (广) – hiên, HỘ (戶) – cửa, cổng – MÔN (門), LÝ (里) – làng
  7. CỐC (谷)- thung lũng, HUYỆT (穴)- cái hang
  8. TỊCH (夕) – khuya, THẦN (辰) – sớm (4), Dê – DƯƠNG (羊), HỔ(虍) – hùm
  9. NGÕA (瓦) – ngói đất, PHẪU (缶) – sành nung
  10. Ruộng – ĐIỀN (田), thôn – ẤP 邑 (5), què – UÔNG (尢), LÃO(老) – già
  11. DẪN 廴- đi gần, SƯỚC 辶 – đi xa
  12. BAO 勹 – ôm, TỶ 比 – sánh, CỦNG 廾 – là chắp tay
  13. ĐIỂU 鳥 – chim, TRẢO 爪 – vuốt, PHI 飛 – bay
  14. TÚC 足 – chân, DIỆN 面 – mặt, THỦ 手 – tay, HIỆT 頁 – đầu
  15. TIÊU 髟 là tóc, NHI 而là râu
  16. NHA 牙 – nanh, KHUYỂN 犬 – chó, NGƯU 牛- trâu, GIÁC 角 – sừng
  17. DỰC 弋 – cọc trâu, KỶ 己 – dây thừng
  18. QUA 瓜 – dưa, CỬU 韭 – hẹ, MA 麻 – vừng, TRÚC竹 – tre
  19. HÀNH 行 – đi, TẨU 走 – chạy, XA 車 – xe
  20. MAO 毛 – lông, NHỤC 肉 – thịt, Da 皮 – Bì, CỐT 骨 – xương.
  21. KHẨU (口) là miệng, Xỉ (齒) là răng
  22. Ngọt CAM 甘, mặn LỖ 鹵, dài TRƯỜNG 長, kiêu CAO 高
  23. CHÍ (至) là đến, NHẬP (入) là vào
  24. BỈ (匕) môi, CỮU (臼) cối, ĐAO (刀) dao, MÃNH (皿) bồn
  25. VIẾT (曰) rằng, LẬP (立) đứng, lời NGÔN (言)
  26. LONG (龍) rồng, NGƯ (魚) cá, QUY (龜) con rùa rua`
  27. LỖI (耒) cày ruộng, TRỈ (黹) thêu thùa

HUYỀN (玄) đen, YÊU (幺) nhỏ, MỊCH (糸) tơ, HOÀNG (黃) vàng

  1. CÂN (斤) rìu, THẠCH (石) đá, THỐN (寸) gang
  2. NHỊ 二 hai, BÁT 八 tám, PHƯƠNG 方 vuông, THẬP 十 mười
  3. NỮ (女) con gái, NHÂN (儿) chân người
  4. KIẾN (見) nhìn, MỤC (目) mắt, XÍCH (彳) dời chân đi
  5. Tay cầm que gọi là CHI (支 )
  6. Dang chân là BÁT (癶), cong thì là Tư (厶)
  7. Tay cầm búa gọi là THÙ (殳)
  8. KHÍ (气) không, PHONG (風) gió, VŨ (雨) mưa, TỀ (齊) đều
  9. LỘC (鹿) hươu, MÃ (馬) ngựa, THỈ (豕) heo
  10. Sống SINH (生), LỰC (力) khoẻ, ĐÃI (隶) theo bắt về
  11. VÕNG (网) là lưới, CHÂU (舟) thuyền bè
  12. HẮC (黑) đen, BẠCH (白) trắng, XÍCH (赤) thì đỏ au
  13. Thực (食) đồ ăn, Đấu (鬥) đánh nhau
  14. Thỉ (矢) tên, Cung (弓) nỏ, Mâu (矛) mâu, Qua (戈) đòng
  15. Đãi (歹) xương, Huyết (血) máu, Tâm (心) lòng
  16. Thân 身 mình, Thi 尸 xác, Đỉnh 鼎 chung, Cách 鬲 nồi
  17. Khiếm (欠) thiếu thốn, Thần (臣) bầy tôi
  18. Vô (毋) đừng, Phi (非) chớ, Mãnh (黽) thời ba ba
  19. Nhữu (禸) chân, Thiệt (舌) lưỡi, Cách (革) da
  20. Mạch (麥) mỳ, HÒA (禾) lúa, Thử (黍) là cây ngô
  21. Tiểu (小) là nhỏ, Đại (大) là to
  22. Tường 爿 giường, Suyễn 舛 dẫm, Phiến 片 tờ, Vi (韋) vây
  23. TRỈ (夂) bàn chân, TUY (夊) rễ cây
  24. TỰ (自) từ, TỴ (鼻) mũi, NHĨ (耳) tai, THỦ (首) đầu.
  25. THANH (青) xanh, THẢO (艹) cỏ, SẮC (色) màu
  26. TRĨ (豸) loài hổ báo, KỆ (彑) đầu con heo.
  27. THỬ (鼠) là chuột, rất sợ mèo
  28. Hương 香 thơm, Mễ 米gạo, Triệt 屮 rêu, Dụng 用 dùng.
  29. ĐẤU (斗) là cái đấu để đong
  30. Chữ CAN (干) lá chắn, chữ CÔNG (工) thợ thuyền.
  31. THỊ (示) bàn thờ cúng tổ tiên,
  32. NGỌC (玉) là đá quý, BỐI (貝) tiền ngày xưa.
  33. ĐẬU (豆) là bát đựng đồ thờ
  34. SƯỞNG (鬯) chung rượu nghệ, DẬU (酉) vò rượu tăm.
  35. Y (衣) là áo, CÂN (巾) là khăn
  36. HỰU (又) bàn tay phải, CHỈ (止) chân tạm dừng.
  37. ẤT (乙) chim én, TRÙNG (虫) côn trùng
  38. CHUY(隹) chim đuôi ngắn, VŨ (羽) lông chim trời.
  39. QUYNH (冂) vây 3 phía bên ngoài
  40. VI (囗) vây bốn phía, KHẢM (凵) thời hố sâu
  41. PHỐC (攴) đánh nhẹ, THÁI (采) hái rau
  42. KỶ (几) bàn, DUẬT (聿) bút, TÂN (辛) dao hành hình.
  43. VĂN (文) là chữ viết, văn minh
  44. CẤN (艮) là quẻ Cấn, giống hình bát cơm.
  45. Ma là QUỶ (鬼), tiếng là ÂM (音),
  46. CỔ (鼓) là đánh trống, DƯỢC (龠) cầm sáo chơi.
  47. THỊ (氏) là họ của con người,
  48. BỐC (卜) là xem bói, NẠCH (疒) thời ốm đau.
  49. Bóng là SAM (彡), vạch là HÀO (爻)
  50. Á (襾) che, MỊCH (冖) phủ, SƠ (疋) ĐẦU (亠) nghĩa nan.
  51. SỔ (丨) PHẾT (丿) MÓC (亅) CHỦ (丶) nét đơn,
  52. HỄ 匸 PHƯƠNG  匚BĂNG 冫 TIẾT 卩, thì dồn nét đôi.
  53. VÔ (无) là không, NHẤT (一) mộ thôi
  54. Diễn ca bộ thủ muôn đời không quên.

 

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

Chu tử trị gia cách ngôn – 朱子治家格言

朱子治家格言

http://pic12.nipic.com/20110226/1319350_143018530122_2.jpg

黎明即起,灑掃庭除,要內外整潔

既昏便息,關鎖門戶,必親自檢點

一粥一飯,當思來處不易.

半絲半縷,恆念物力維艱。

宜未雨而綢繆,毋臨渴而掘井。

自奉必須儉約,宴客切勿留連。

器具質而潔,瓦缶勝金玉。

飲食約而精,園蔬勝珍饈。

勿營華屋,勿謀良田。

三姑六婆,實淫盜之媒.

婢美妾嬌,非閨房之福。

奴僕勿用俊美,妻妾切忌艷妝。

祖宗雖遠,祭祀不可不誠.

子孫雖愚,經書不可不讀。

居身務期質樸,教子要有義方。

勿貪意外之財,勿飲過量之酒。

與肩挑貿易,勿佔便宜.

見貧苦親鄰,須多溫恤。

刻薄成家,理無久享.

倫常乖舛,立見消亡。

兄弟叔侄,須多分潤寡.

長幼內外,宜法屬辭嚴。

聽婦言,乖骨肉,豈是丈夫.

重資財,薄父母,不成人子。

嫁女擇佳婿,毋索重聘.

娶媳求淑女,毋計厚奩。

見富貴而生讒容者,最可恥.

遇貧窮而作驕態者,賤莫甚。

居家戒爭訟,訟則終凶。

處世戒多言,言多必失。

毋恃勢力而凌逼孤寡,

勿貪口腹而恣殺生禽。

乖僻自是,悔誤必多.

頹惰自甘,家道難成。

狎昵惡少,久必受其累.

屈誌老成,急則可相依。

輕聽發言,安知非人之譖訴,

當忍耐三思.

因事相爭,安知非我之不是,

須平心遭暗想。

施惠勿念,受恩莫忘。

凡事當留余地,得意不宜再往。

人有喜慶,不可生妒忌心。

人有禍患,不可生喜幸心。

善欲人見,不是真善.

惡恐人知,便是大惡。

見色而起淫心,報在妻女.

匿怨而用暗箭,禍延子孫。

家門和順,雖饔飧不繼,

亦有余歡.

國課早完,即囊橐無余,

自得至樂

讀書誌在聖賢,為官心存君國。

守分安命,順時聽天。

為人若此,庶乎近焉。

Lê minh tức khởi sái tảo đình trừ, yếu nội ngoại chỉnh khiết

Ký hôn tiện tức, quan tỏa môn hộ, tất thân tự kiểm điểm. Nhất chúc nhất phạn, đương tư lai xứ bất dị

Bán ty bán lũ, hằng niệm vật lực duy nan

Nghi vị vũ nhi trù mậu, vô lâm khát nhi quật tỉnh.

Tự phụng tất tu kiệm ước, yến khách thiết vật lưu liên.

Khí cụ chất nhi khiết, ngõa phẫu thắng kim ngọc

Ẩm thực ước nhi tinh, viên sơ thắng trân tu

Vật doanh hoa ốc, vật mưu lương điền.

Tam cô lục bà, thật dâm đạo chi môi

Tỳ mỹ thiếp kiều, phi khuê phòng chi phúc

Nô bộc vật dụng tuấn mỹ, thê thiếp thiết kỵ diễm trang.

Tổ tông tuy viễn, tế tự bất khả bất thành

Tử tôn tuy ngu, kinh thư bất khả bất độc.

Cư thân vụ kỳ chất phác, giáo tử yếu hữu nghĩa phương

Vật tham ý ngoại chi tài, vật ẩm quá lượng chi tửu

Dữ kiên khiêu mậu dịch, vật chiếm tiện nghi.

Khắc bạc thành gia, lý vô cửu hưởng

Luân thường quai suyến, lập kiến tiêu vong.

Huynh đệ thúc điệt, tu đa phân nhuận quả

Trưởng ấu nội ngoại, nghi pháp thuộc từ nghiêm.

Thính thê ngôn, quai cốt nhục, khởi thị trượng phu.

Trọng tư tài, bạc phụ mẫu, bất thành nhân tử.

Giá nữ trạch giai tế, vô sách trọng sính.

Thú tức cầu thục nữ, vô kế hậu liêm.

Kiến phú quý nhi sinh siểm dung giả, tối khả sỉ.

Ngộ bần cùng nhi tác kiêu thái giả, tiện mạc thậm.

Cư gia giới tranh tụng, tụng tắc chung hung.

Xứ thế giới đa ngôn, ngôn đa tất thất.

Vô thị thế lực nhi lăng bức cô quả.

Vật tham khẩu phúc nhi tứ sát sinh cầm.

Quai tịch tự thị, hối ngộ tất đa

Đồi nọa tự cam, gia đạo nan thành

Áp nặc ác thiểu, cửu tất thụ kỳ lụy

Khuất chí lão thành cấp tắc khả tương y

Khinh thính phát ngôn, an tri phi nhân chi sàm tố, đương nhẫn nại tam tư

Nhân sự tương tranh, an tri phi ngã chi bất thị, tu bình tâm ám tướng

Thi huệ vô niệm, thụ ân mạc vong

Phàm sự đương lưu dư địa, đắc ý bất nghi tái vãng.

Nhân hữu hỷ khánh, bất khả sinh đố kỵ tâm

Nhân hữu họa hoạn, bất khả sinh hỷ hạnh tâm.

Thiện dục nhân kiến, bất thị chân thiện

Ác khủng nhân tri, tiện thị đại ác

Kiến sắc nhi khởi dâm tâm, báo tại thê nữ

Nặc oán nhi dụng ám tiễn, họa đình tử tôn.

Gia môn hòa thuận, tuy ung san bất kế , diệc hữu dư hoan

Quốc khóa tảo hoàn, tắc năng tháo vô dư, tự đắc chí lạc.

Độc thư chí tại thánh hiền, vi quan tâm tồn quân quốc

Thủ phân an mệnh, thuận thời thính thiên.

Vi nhân nhược thử, thứ hồ cận yên

1 Mờ sáng phải dậy, rảy quét sân hè, cốt cho trong ngoài đều sạch sẽ.

  1. Đêm đến khi đi ngủ , đóng khóa cửa ngõ, tất phải tự mình đi coi nom.
  2. Một húp cháo , một hột cơm, nên nghĩ kiếm được không phải là dễ.
  3. Một đoạn tơ, một sợi vải , phải nhớ làm ra rất khó khăn.
  4. Phòng bị từ lúc chưa mưa , chớ để lúc khát mới đào giếng.
  5. Tự phụng mình nên kiệm ước, thết đãi khách chớ lưu liên.
  6. Đồ dùng mộc mạc mà sạch sẽ, chậu sành hơn vàng ngọc.
  7. Ăn uống bớt ít mà tinh vi, rau vườn hơn thịt cá.
  8. Chớ làm nhà đẹp.
  9. Chớ mưu ruộng tốt.
  10. Tam cô lục bà đó là mồi dâm đạo.
  11. Tỳ xinh thiếp đẹp ,không phải phúc khuê phòng.
  12. Tôi tớ chớ dùng kẻ đẹp trai.
  13. Thê thiếp nên cấm sự làm dáng.
  14. Tổ tôn dù xa,tế tự vẫn phải thành.
  15. Con cháu dù ngu ,kinh sách vẫn phải dậy.
  16. Xửmình phải nên cần kiệm mộc mạc.
  17. Dạy con cần có nghĩa lý phép tắc.
  18. Chớ tham của bắt được.
  19. Chớ uống rượu qua say.
  20. Đối với những kẻ gồng gánh,bán chác chớ chiếm phần lợi về mình.
  21. Thấy những kẻ thân lân cùng khổ, nên đem lòng thể tuất.
  22. Khắc bạc làm nên giàu có , không hưởng được lâu.
  23. Ăn ở trái cả luân thường , tiêu duyệt trông thấy.
  24. Anh, em, chú, cháu nên nhiều sẻ thiếu bù.
  25. Lớn bé trong nhà nên ở nghiêm nói thẳng.
  26. Nghe lời vợ trái tình cốt nhục, không phải trượng phu.
  27. Trọng tiền của,bạc với mẹ cha là con bất hiếu.
  28. Gả con chọn rể hiền, chớ đòi nặng lễ.
  29. Lấy dâu cần gái nết,chớ hám của nhiều.
  30. Thấy kẻ giầu sang mà ra dáng nịnh hót,xấu hổ gì bằng.
  31. Gặp người nghèo khổ mà làm bộ kiêu căng, hèn mạt quá lắm.
  32. Ở trong nhà chớ nên tranh kiện,đã kiện tất chẳng ra gì.
  33. Ra với đời chớ có nói nhiều, hay nói có khi lầm lỡ.
  34. Chớ cậy thế lực mà hiếp bách những người cô quả.
  35. Chớ ham ăn uống mà giết hại các giống chim muông.
  36. Gàn giở tự cho là phải,tất nhiều sự lầm lỡ.
  37. Hènkém cam chịu một bề ,không sao mong khá được.
  38. Thân kẻ ác thiếu ,lâu ngày tất lụy đến mình.
  39. Chịu khuất bậc lão thành, lúc cấp có thể nương nhờ.
  40. Nghe sao nói thế ,biết đâu chẳng là người gièm pha vậy nên nghĩ kỹ.
  41. Nhân việc tranh nhau,biết đâu chính mình không phải,nên phải suy xét.
  42. Làm ơn cho người chớ nghĩ.
  43. Chịu ơn người chớ nên quên.
  44. Làm việc gì chớ làm quá.
  45. Khi đắc ý thì nên thôi.
  46. Người có việc vui mừng chớ đem lòng ghen ghét.
  47. Người có việc tai vạ chớ đem lòng vui mừng.
  48. Làm việc thiện mong cho người thấy, việc thiện ấy không thực.
  49. Làm việc ác chỉ sợ người biết,điều ác ấy thực là to.
  50. Thấy gái đẹp mà nổi lòng dâm,vợ con chịu ngay ác báo.
  51. Giấu sự oán mà ngầm làm hại, con cháu phải chịu vạ lây
  52. Cửa nhà hòa thuận dẫu đói cũng vui.
  53. Đọc sách chí ở thánh hiền.
  54. Làm quan lòng nghĩ đến dân nước.

Làm người được như thế ,có thể gọi là người.

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

HÁN VĂN TRÍCH TUYỂN Bài 6

Bài 14

     平 吳 大 誥

代 天 行 化 皇 上 若 曰 :

蓋 聞 : 仁 義 之 舉 要 在 安 民, 弔 伐 之 師 莫 先 去 暴 . 惟 我 大 越 之 國 實 為 文 獻 之 邦. 山 川 之 封 域 既 殊, 南 北 之 風 俗 亦 異. 自 趙 丁 李 陳 之 肇 造 我 國 與 漢 唐 宋 元 而 各 帝 一 方. 雖 強 弱 時 有 不 同 而 豪 傑 世 未 常 乏. 故 劉 龔 貪 功 以 取 敗 而 趙    好 大 以 促 亡, 唆 都 既 擒 於 鹹 子 關, 烏 馬 又 殪 於 白 藤 海. 嵇 諸 往 古 厥 有 明 徵,…

                                 (阮 抑 齋)

Phiên âm

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

Đại thiên hành hoá, hoàng thượng nhược viết:

Cái văn: Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân, điếu phạt chi sư mạc tiên khử bạo. Duy ngã đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang. Sơn xuyên chi phong vực ký thù, Nam Bắc chi phong tục diệc dị. Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương. Tuy cường nhược thời hữu bất đồng, nhi hào kiệt thế vị thường phạp. Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong, Toa Đô ký cầm ư Hàm Tử quan, Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải. Kê chư vãng cổ, quyết hữu minh trưng.

(Nguyễn Ức Trai)

BẢN TUYÊN CÁO RỘNG RÃI VỀ VIỆC ĐÁNH DẸP GIẶC NGÔ

Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền dụ rằng:

Ta từng nghe nói: Việc nhân nghĩa cốt ở chỗ làm cho dân được yên ổn, quân đội thương dân đánh kẻ có tội không ai không lấy việc trừ bạo làm đầu.

Như nước Đại Việt ta từ trước, thực là một nước có văn hiến. Bờ cõi sông núi đã chia riêng biệt, phong tục của phương Nam, phương Bắc cũng khác. Từ Triệu Đinh Lý Trần bắt đầu xây dựng nước ta, (các triều đại ấy) đã cùng với Hán Đường Tống Nguyên ai nấy đều xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng hào kiệt thì đời đời chưa khi nào thiếu. Cho nên, Lưu Cung tham lập công nên nhận lấy sự thất bại, Triệu Tiết thích tiếng lớn nên càng chóng bị diệt vong. Toa Đô đã bị bắt ở cửa ải Hàm Tử, Ô Mã lại bị giết nơi cửa biển  Bạch Đằng. Kê cứu lại chuyện xưa, (những điều ấy) vẫn còn có chứng cứ rõ ràng vậy.

  1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm

Nguyễn Trãi    sinh năm 1380 (Canh Thân 庚 申) tại kinh thành Thăng Long. Quê cũ vốn ở làng Chí Ngại 至 磑 (Theo Bùi Văn Nguyên là Chi Ngại 支 磑) thuộc huyện Chí Linh 至 靈, tỉnh Hải Hưng 海 興, cuối đời dời về làng Nhị Khê (Thường Tín 常信 (theo Bùi Văn Nguyên phải đọc là Thượng Tín 尚 信), Hà Tây 河 西), là con của ông Nguyễn Phi Khanh 阮 飛 卿 và bà Trần Thị Trái 陳 氏 泰 (con gái của Băng Hồ tướng công 冰 壺 相 公 Trần Nguyên Đán 陳 元 旦). Ông đậu Thái học sinh 太 學 生 năm 1400, có ra làm quan cùng với nhà Hồ. Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của cha con Hồ Quý Ly 胡 季 釐 thất bại, Ông và cha bị bắt giải về Trung Quốc. Trên đường đi, ông trốn thoát, sau bị giặc bắt và giam lỏng ở thành Đông Quan 東 關.

Năm 1418 (Mậu Tuất 戊 戌), ông cùng với người anh họ là Trần Nguyên Hãn 陳 元 桿 trốn thoát vào Lam Sơn 藍 山 tham gia cuộc khởi nghĩa do Bình Định Vương 平 定 王 Lê Lợi 黎 利 lãnh đạo, cũng vào thời gian này, ông đã dâng Bình Ngô Sách 平 吳 策 (Sách lược chống giặc Ngô). Năm 1427, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, hoà bình lập lại, nhân danh Lê Lợi, ông soạn bài Bình Ngô đại cáo, tuyên bố rộng rãi cho quốc dân được biết về sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chính nghĩa này. Năm 1428, ông được phong tước Quan Phục Hầu 冠 服 侯 (1428), được nhà Lê ban quốc tính nên còn được gọi là Lê Trãi. Ngoài ra ông còn được phong các chức vụ khác như: Hàn Lâm Viện Thừa chỉ học sĩ 翰 林 院 承 旨 學 士, Triều liệt đại phu 朝列大夫, Nhập Nội Hành Khiển 入 內 行 遣, Lại bộ thượng thư 吏 部 尚 書 kiêm Khu mật viện sự 摳 密 院 事 (1427)… Bản thân ông cùng với vị công thần khác như Trần Nguyên Hãn 陳 元 桿, Phạm Văn Xảo 范 文 巧,… đã tham gia chấn hưng lễ nhạc, quy định triều nghi, định ra quan chế của nhà Hậu Lê.    96  Tính ông cương trực, liêm chính nên bị bọn quyền thần ghen ghét. Năm 1442, Lê Thái Tông 黎 太 宗 băng hà trên đường tuần thú, triều đình đã đổ tội cho ông là giết vua, gây nên án Lệ Chi Viên 荔 枝 園 lưu truyền trong hậu thế, khép vào tội tru di tam tộc. Mãi đến năm 1464, Lê Thánh Tông  黎 聖 宗 mới minh oan và phục hồi danh dự, quan phẩm cho ông.

Tác phẩm của ông còn được lưu truyền như:

- Bình Ngô đại cáo  平 吳 大 誥

- Quân trung từ mệnh tập  軍 中 詞 命 集

- Dư địa chí  輿 地 誌

- Quốc âm thi tập  國 音 詩 集

- Ức Trai thi tập  抑 齋 詩 集

- Ngọc Đường di cảo  玉 堂 遺 稿

- Gia huấn ca  家 訓 歌

- Lam Sơn Vĩnh Lăng bi  藍 山 永 陵

- Chí Linh sơn phú  至 靈 山 賦,…

Nhìn chung, Nguyễn Trãi được biết đến trên nhiều phương diện như chính trị, ngoại giao, quân sự,… nhưng tiêu biểu nhất là ở phương diện văn hoá, văn học. Ông là người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới (1980). Vào dịp kỷ niệm 520 ngày mất (1442-1962) và 600 năm ngày sinh (1380-1980), ở Việt Nam và thế giới đã tổ chức các cuộc hội thảo lớn về Nguyễn Trãi, di sản tư tưởng, văn hoá của Nguyễn Trãi được thu thập, phân tích, đánh giá khá đầy đủ, toàn diện. Do đó, ảnh hưởng và địa vị của ông ngày càng trở nên sâu sắc trong đời sống văn hoá, xã hội và văn học dân tộc. Tác phẩm của Nguyễn Trãi được giới thiệu rộng rãi, được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và là nguồn đề tài nghiên cứu của hàng loạt công trình khoa học có giá trị học thuật.

  1. Về tác phẩm Bình Ngô đại cáo 平 吳 大 誥

Theo Đại Việt sử ký toàn thư 大 越 史 記 全 書 (Ngô Sĩ Liên 吳 仕 連), Đại Việt thông sử 大 越 通 史 (Lê Quý Đôn 黎 貴 惇, 1726-1785), Hoàng Việt văn tuyển 皇 越 文 選 (Bùi Huy Bích 裴 輝 碧, 1744-1802) và phần Tiên sinh sự trạng phả 先 生 事 狀 譜 trong Ức Trai di tập 抑 齋 遺 集 (Dương Bá Cung 陽 伯 龔, 1794-1868), Bình Ngô đại cáo 平 吳 大 誥 được khởi thảo vào ngày 15 tháng 04 năm Mậu Thân 戊申(1428). Đây là bản tuyên ngôn độc lập do Nguyễn Trãi thay mặt   Lê Lợi viết ra để tuyên bố cho nhân dân cả nước được biết về sự thành công của cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn, là một trong những áng thiên cổ hùng văn của dân tộc Việt Nam chúng ta, là đỉnh cao của thiên tài văn học của Nguyễn Trãi.

Về mặt hình thức, tác phẩm được viết theo thể văn tứ lục, biền ngẫu, sử dụng phép đối chặt chẽ, lối văn khoa trương, gồm 74 liên (148 vế câu). Toàn bài cáo là một bản tổng kết gọn gàng, đầy đủ về quá trình chiến đấu chống quân xâm lược Minh triều 明朝.

Giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam thế kỷ XX thường mô tả Bình Ngô đại cáo 平 吳 大 誥 như là “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt”. Đây là một bản tuyên ngôn nhân nghĩa, là một bản cáo trạng tội ác, một áng anh hùng ca chiến thắng, bản tuyên ngôn nhân đạo, hoà bình và chống bá quyền (GS.Đinh Gia Khánh), nó còn là bản tuyên ngôn của một dân tộc anh hùng và văn hiến (GS.Vũ Khiêu) và nó cũng là áng hùng văn muôn thuở (GS.Mai Quốc Liên).  Bình Ngô đại cáo 平 吳 大 誥 là cả một sự cách tân về thể loại. Những bài cáo trong Thư kinh như được hồi sinh trong một áng văn mới. Tầm vóc của nó đã được thay đổi khi nó từ một loại văn bản công bố mệnh lệnh chinh phạt của thiên tử đối với các nước chư hầu, trở thành một bản tuyên ngôn có tầm quan trọng trong lịch sử của một dân tộc anh hùng.

  1. Giới thuyết thêm về chữ Ngô

Theo các nhà nghiên cứu truyền thống, chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo được lấy trong tước hiệu của vua Thái Tổ 太 祖 nhà Minh là Chu Nguyên Chương 朱 元 璋. Ông ta sáng nghiệp ở đất Ngô (Giang Tô 江 蘇, Trung Quốc 中 國), từng xưng là Ngô Quốc Công 吳 國 公, Ngô Vương 吳王 trước khi xưng đế nên ta thường gọi giặc Minh là giặc Ngô.

Tuy nhiên, trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữa nước, người Việt chúng ta cũng dùng từ Ngô để gọi chung người phương Bắc, bởi lẽ từ thời Tam quốc 三 國, nước Ngô 吳 國 đã cai trị nước ta ngót ½ thế kỷ. Vì sự áp bức đó nên đã xảy ra cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh 趙 氏 禎 (248) để chống lại sự áp bức đô hộ ấy của chính quyền phong kiến phương Bắc.

Tóm lại, dù mang ý nghĩa nào, chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo vẫn ám chỉ quân xâm lược phương Bắc và vì thế nó cành làm tăng giá trị nhân văn, ý nghĩa xã  hội của bản cáo trạng chuẩn xác và rõ ràng nhất về một giai đoạn lịch sử đau thương nhưng anh hùng trong lịch sử Việt Nam.

III. Chú giải từ ngữ

  1. Bình ( Can) :           - Bằng phẳng, bằng nhau

                                                - Bình trị, yên phận, bình thường

  1. Ngô ( Khẩu) :         - Họ Ngô, chỉ giặc Minh
  2. Đại ( Đại) :    - To lớn
  3. Cáo ( Ngôn) :          - Người trên bảo với kẻ dưới

                                                 – Tên một loại thể

Ghi chú: 平 吳 大 誥 Bình Ngô đại cáo: Tuyên bố một cách rộng rãi về việc đánh dẹp giặc Ngô.

代 天 行 化, 皇 上 若 曰 Đại thiên hành hoá, hoàng thượng nhược viết : Thay trời chuyển hoá, hoàng thượng ban chiếu dụ rằng (câu có tính chất nghi thức trong các văn kiện do vua Lê ban hành).

Đây là các từ do các tướng tôn xưng Lê Lợi sau khi nghĩa quân thắng liên tiếp ở Thanh Hoá, Nghệ An năm 1425, từ đó về sau trong mệnh lệnh của Lê Lợi đều có từ này (GS.Đặng Đức Siêu).

若 曰 Nhược viết: từ thường dùng trong sách Thượng thư 尚 書, dành riêng cho vua chúa với ý nghĩa như “ban rằng, truyền rằng”. 

  1. Cái ( Thảo) : - Cái lọng che, che chở, trùm lên

- Hơn đời, cái thế

蓋 棺 論 定 Cái quan luận định:Đóng quan tài rồi mới bàn luận

傾 蓋 下 馬 Khuynh cái hạ mã: Nghiêng lọng xuống ngựa

  1. Văn (Môn) : – Nghe, ngửi

蓋 文 Cái văn: Ta thường nghe, từ nghe nói rằng (từ công thức thường dùng trong các thể loại văn bản do nhà vua ban hành như chiếu, chế, cáo,…)

  1. Nhân ( Nhân) : - Yêu thương người không vụ lợi
  2. Nghĩa (Dương) : – Lẽ phải, ý nghĩa, vì nghĩa

文 義 Văn nghĩa: Ý nghĩa của bài văn

義 師 Nghĩa sư: Đội quân chinh phạt vì nghĩa không vì lợi

義 倉 Nghĩa thương: Cái kho dùng để làm việc nghĩa

Ghi chú: 仁 義 Nhân nghĩa: Đây là hai khái niệm quan trọng của Nho gia, Khổng Tử 孔 子chủ trương đức Nhân, Mạnh Tử 孟 子 chủ trương thủ Nghĩa. Do đó, hai khái niệm này luôn được các nhà Nho hậu học sử dụng như một chủ trương đạo  đức cơ bản và thể hiện tính cách của người quân tử, trượng phu. Tư tưởng nhân nghĩa bao gồm hai mặt: Một là nhằm củng cố chế độ đẳng cấp trên quyền lợi của giai cấp thống trị bằng cách đoàn kết nội bộ tầng lớp quý tộc với các tầng lớp nhân dân như: hiếu (con đối với cha mẹ), đễ (em đối với anh), cung (cung kính với người trên), khoan (bao dung với kẻ dưới), tín (giữ lòng tin với nhau), mẫn (cần cù), huệ (biết ban ơn cho kẻ dưới có công),… hai là trước sức mạnh của quần chúng ngày càng được khẳng định trong lịch sử, để thực hiện mục đích trên, tầng lớp thống trị cũng đã từng bước nhượng bộ. Ở Việt Nam, thời phong kiến thịnh trị thì mặt thứ hai được đề cao, còn ở giai đoạn suy vi thì mặt thứ nhất chiếm vị trí chủ đạo.

  1. Yếu ( Á) :      - Điều quan trọng, thiết yếu

Yêu                        - Yêu cầu, mong muốn

  1. Tại ( Thổ)   :         – Giới từ, ở, tại
  2. An ( Miên) :         - Yên ổn
  3. Dân ( Thị) :           - Người dân, dân chúng

安 民 An dân     :      Làm cho dân được yên ổn

  1. Điếu ( Cân) :         - Đi viếng người chết

                                       – Thương xót

  1. Điếu ( Cung) : - Dùng như chữ
  2. Phạt ( Nhân) : – Đánh công khai, chính nghĩa

Ghi chú: 弔 伐 (吊 伐) Điếu phạt: Rút gọn từ câu 弔 民 伐 罪 Điếu dân phạt tội trong Thượng Thư 尚 書: Thương xót dân chúng mà trừng phạt kẻ có tội.

  1. Mạc ( Thảo) : - Không, tuyệt không, chẳng,…
  2. Tiên ( Nhân) : - Trước, đầu, người đã chết

先 嚴 Tiên nghiêm: Người cha đã qua đời

先 帝 Tiên đế: Vua đời trước

先聖 Tiên thánh: hiệu của Khổng tử, do Đường Thái Tông tặng

先師 Tiên sư: hiệu của Nhan Hồi, do Đường Thái Tông tặng

  1. Khứ ( Khư) :         – Đi, đi qua

Khử                     - Trừ bỏ

  1. Bạo ( Thuỷ) :        – Tàn ác, bạo ngược
  2. Duy ( Tâm) :         – Mưu nghĩ, ấy là, chỉ có một

- Lời nói mở đầu

  1. Việt ( Tẩu) :          – Vượt qua (chiều ngang)

- Tên nước thời Xuân Thu

Ghi chú: 大 越 Đại Việt: Ngày 01 tháng 10 năm Sùng Hưng Đại Bảo 崇 興 大 寶 thứ 6 (Giáp Ngọ 甲 午, 1054), Lý Thái Tông 李 太 宗 băng hà. Thái tử Nhật Tôn日 尊 lên ngôi tức là Lý Thánh Tông 李 聖 宗, cải hiệu là Long Thuỵ Thái Bình 龍 瑞 太 平, ngay trong năm ấy đã đổi quốc hiệu là Đại Việt. Đến đười Trần vẫn xưng quốc hiệu Đại Việt. Sang đời Hồ, Hồ Quý Ly cải hiệu Đại Ngu 大 虞 (vì họ Hồ là dòng dõi Ngu Thuấn 虞  舜). Thời thuộc Minh bị đổi lại thành An Nam 安 南, đến 1406 lại đổi thành Giao Chỉ 交 趾. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế ở Đông Đô 東 都, lại xưng quốc hiệu là Đại Việt (Theo GS. Bửu Cầm, Quốc hiệu nước ta từ An Nam đến Đại Nam, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn).

  1. Thực (Miên) : – Quả thực, đúng thực, đầy
  2. Hiến ( Khuyển) : – Người hiền tài

Ghi chú: 文 獻 Văn hiến: Văn lúc đầu có nghĩa là vết vằn của con hổ báo.

Vì vằn là hình thức thể hiện bên ngoài của con hổ bào nên chuyển sang nghĩa hình thức, đối lập với nghĩa nội dung. Trong xã hội thì các sự kiện có đóng góp công tích là nội dung, còn tre lụa (sách vở) ghi chép các sự kiện, công tích ấy là hình thức, cũng gọi là văn. Còn Hiến là nói chung các bậc anh tài, hào kiệt có công lao đối với sự phát triển của văn hoá nước nhà. Vì thế, văn hiến có nghĩa chung là nền văn minh lâu đời, có nhân vật anh hùng, có sử sách (Theo Đặng Đức Siêu, Ngữ văn Hán Nôm,

Theo Từ Nguyên 辭 源, văn là sách vở, hiến là hiền tài. Đó là theo nghĩa hẹp, thực ra một nền văn hiến có thể đã ra đời trước khi có sử sách, nó có nhiều mặt tương đồng với khái niệm văn hoá của châu Âu.

  1. Bang (Ấp) :         – Nước, quốc gia

- Một địa vực riêng có ranh giới với nước khác

  1. Xuyên ( Xuyên)   : - Sông, dòng nước lớn
  2. Phong ( Thốn)   : - Bao, gói, ban, phát, bờ cõi
  3. Vực ( Thổ)   : - Cõi, bờ cõi, khu vực
  4. 28. 既 Ký ( Vô)    : - Đã (phó từ)

既 往 不 諫 Ký vãng bất gián: Sự đã qua không can gián nữa

飲 食 既 畢 Ẩm thực ký tất: Ăn uống đã xong

  1. Thù ( Ngạt)   : - Khác lạ
  2. 30. 南 Nam ( Thập)   : - Hướng Nam   101
  3. Bắc ( Chuỷ)   : - Phương Bắc, trái lại, thua bại.
  4. Phong Phong   : - Gió

- Sự hoà hợp trong tâm lý

  1. Tục ( Nhân)   : - Bình thường, tập quán

Ghi chú: 風 俗 Phong tục: Phong vốn nghĩa là gió, một hiện tượng tự nhiên sau chuyển nghĩa sang chỉ một hiện tượng xã hội, đó là sự hoà hợp trong tâm lý con người. Nho gia quan niệm là giáo hoá từ trên xuống dưới để tâm lý được hoà đồng gọi là phong. Tục là tập quán, lề thói và nuôi dưỡng tâm lý của cộng đồng xã hội. Ngày nay, phong tục nhằm chỉ thuần phong mỹ tục, thói quen xủa ông cha còn lại, con cháu thừa hưởng và noi theo.

  1. Diệc (Đầu)   : - Cũng (phó từ)
  2. Dị ( Điền)   : - Khác, kỳ lạ

同 床 異 夢 Đồng sàng dị mộng: Cùng giường khác mộng

同 父 異 母 Đồng phụ dị mẫu: Cùng cha khác mẹ

  1. Tự ( Tự    : - Từ, bản thân mình
  2. Triệu ( Tẩu)   : - Nước Triệu, họ Triệu, trả lại
  3. Đinh ( Nhất   : - Can Đinh, người trưởng thành

丁 憂 Đinh ưu: Buồn đau, đang cư tang cha mẹ

成 丁 Thành đinh: Người đến tuổi 18, bắt đầu đóng sưu thuế

園 丁 Viên đinh: Người làm vườn

家 丁 Gia đinh: Người giúp việc trong nhà

丁 寧 Đinh ninh: Rõ ràng, răn bảo kỹ càng

  1. Lý ( Mộc)   : - Cây mận, hành lý, họ Lý
  2. Trần (Phụ)    : - Bày tỏ, nước Trần, họ Trần
  3. Hán ( Thuỷ)   : - Sông Hán, triều Hán, nước Tàu
  4. Đường ( Khẩu)   : - Nói khoác, họ Đường
  5. Tống ( Miên)   : - Nước Tống, họ Tống
  6. Nguyên ( Nhân)   : – Mở đầu, bắt đầu

Ghi chú: Triệu: Nhà Triệu do Triệu Đà 趙 佗 dựng lên ở vùng Nam Việt 南 越 từ 207-111 TCN, đóng đô ở Phiên Ngung 番 隅 (Trung Quốc 中 國, Quảng Tây 廣西).

Đinh: Nhà Đinh (968- 979), do Đinh Bộ Lĩnh 丁 部 領 lập, đô ở Hoa Lư 閭 (Ninh Bình 寧 平).

Lý: Nhà Lý (1009-1224), do Lý Công Uẩn 李 公 蘊  lập nên, đóng đô ở Thăng Long 昇 龍.

Trần: Nhà Trần (1224-1400), do T.T.Độ 陳 守 度 và T.Cảnh 陳 煚 dựng nên, đô ở Thăng Long.

Hán: Nhà Hán (Trung Quốc, 204 TCN-220), do Lưu Bang 劉 邦 dựng nên, đóng đô ở Trường An 長 安, sau chuyển về Lạc Dương 洛 陽.

Đường: Nhà Đường (Trung Quốc, 618-907), do Lý Uyên 李 淵 và Lý Thế Dân 李 世 民 lập nên, đóng đô ở Trường An.

Tống: Nhà Tống (Trung Quốc, 960-1279), do Triệu Khuông Dẫn (Dận) 匡 胤 dựng nên, đóng đô ở Khai Phong 開 封 (Bắc Tống 北 宋), sau dời về Lâm An 臨 安 (Nam Tống 南 宋).

Nguyên: Nhà Nguyên (Trung Quốc, 1260-1368), do Thành Cát Tư Hãn 吉 思 汗 lập nên và cháu nội là Hốt Tất Liệt 忽 必 烈 chấn hưng ở đại lục, đóng đô ở Biện Kinh 汴 京.

  1. Triệu ( Duật)   : - Bắt đầu, mở đầu
  2. Tạo  ( Sước)   : - Là ra, gây dựng nên
  3. Ngã ( Qua)   : - Tôi, ta (đại tư nhân xưng)
  4. Nhi ( Nhi)    : – Thì, mà, và, là, cùng,…
  5. Các ( Khẩu)   : - Mỗi một (trong nhóm số nhiều)

Trong tiếng Việt có hai từ được dùng để chỉ số nhiều là Các và Những. Đây đều mang nghĩa mỗi một, từng cái, từng người một trong một tập hợp nhưng các nằm trong một tập hợp cụ thể, còn những nằm trong một tập hợp không xác định cụ thể.

  1. Tuy ( Chuy)   :- Tuy nhiên, liên từ đứng đầu câu dùng để chuyển ý
  2. Cường ( Cung)   : -  Mạnh, sức mạnh

Cưỡng                    - Dùng sức mạnh để ép buộc người theo ý của mình

  1. Nhược ( Cung)   : -  Yếu, yếu sức, kém cỏi
  2. Đồng ( Khẩu)   : -  Cùng nhau

同 胞 Đồng bào : Anh em cùng sinh trong một bọc

同 窗 Đồng song: Bạn bè cùng học

同 志 Đồng chí: Người cùng chí hướng

  1. Hào ( Thỉ)   : – Người tài giỏi, trí tuệ sáng suốt hơn 100 người gọi là Hào.

                                      - Là chúa trong 1 nhóm

                                      - Hào hiệp, ý khí phi thường

  1. Kiệt (Nhân)   : - Giỏi, trí tuệ gấp 10 lần người

                                       – Phàm cái gì khác hẳn gọi là Kiệt

  1. Thế ( 一 Nhất)   : - Đời, ba mươi năm là một thế 

世 系 Thế hệ: nối đời nhau  世 父 Thế phụ: bác ruột

盛 世 Thịnh thế: đời thịnh trị  世 子 Thế tử: Con vua chư hầu

季 世 Quý thế: đời suy   世 交 Thế giao: giao thiệp

世 故 Thế cố: Thói đời   世 兄 Thế huynh: Con của thầy

  1. Vị ( Mộc) : - Chưa, không

Mùi                - Chi Mùi trong thập nhị địa chi

未 成 年 Vị thành niên: Chưa đến tuổi thanh niên

未 必 Vị tất: Chưa hẳn

未 婚 夫 (妻) Vị hôn phu (thê): Chồng (vợ) chưa cưới

  1. Thường ( Cân) : - Thường xuyên, lâu mãi    - Đạo thường
  2. Phạp (丿Phiệt) :   - Thiếu, khuyết
  3. Cố ( Phốc) :    - Cho nên, cớ, cũ, chết, gốc, việc

Ghi chú: 劉 龔 Lưu Cung: Tên vua nước Nam Hán 南 漢, sai con là Trấn Nam Vương 鎮 南 王 Lưu Hoằng Thao (Tháo) 劉 弘 操 mang quân sang xâm lược nước ta, bị Ngô vương Quyền đánh tan và giết chết trên sông Bạch Đằng. Sách Khâm định Việt sử tiền biên 欽 定 越 史 前 編, quyển 5, tờ 19a còn gọi tên của Trấn Nam Vương là Lưu Hồng Thao 劉 洪 操.

  1. Tham ( Bối) : - Tham lam
  2. Bần ( Bối ) : – Nghèo
  3. Công ( Lực) : - Việc, công lao, công hiệu

                                      - Để tang cha mẹ, ông bà

Từ đồng âm:

Chung, việc quan, tước công Khéo, quan lại

Đánh, vây đánh, công kích, sửa  Trục ngang bánh xe   104

  1. Dĩ ( Nhân) : - Lấy, làm

以 農 為 本 Dĩ nông vi bản: Lấy nông nghiệp làm gốc

以 卵 投 石 Dĩ noãn đầu thạch: Lấy trứng chọi đá

以 食 為 先 Dĩ thực vi tiên: Lấy ăn làm đầu

  1. Thủ ( Hựu) : - Lấy, nhận lấy, chọn lấy
  2. Bại ( Hựu) : - Hỏng, đổ nát, thua, nghiêng đổ

取 敗 Thủ bại     :   Nhận lấy sự thất bại hoàn toàn

Ghi chú:    Triệu Tiết: Tướng nhà Tống, đời Lý đã cùng với Quách Quỳ đem theo 9 tướng hợp với Chiêm Thành 佔 城 và Chân Lạp 真 腊 mang quân xâm lược nước ta, bị Lý Thường Kiệt đánh tan ở sông Như Nguyệt.

  1. Hảo ( Nữ) : - Tốt đẹp, tích cực,…

Háo (hiếu)     : - Ham muốn

  1. Đại ( Đại) : - To lớn

好 大 Hiếu đại      :   Tham công lớn

  1. Xúc ( Nhân) :        - Ngặt, sự cần kíp, dẫn đến

                                                 – Thúc giục

  1. Vong ( Đầu) : - Chết, mất

Ghi chú: 唆 都 Toa Đô: Tướng nhà Nguyên, từng sang xâm lược nước ta và bị tiêu diệt ở trận Tây Kết 西 結 – Hưng Yên 興 安 chứ không phải bị bắt ở cửa Hàm Tử.

  1. Cầm (Thủ) :          - Bắt giữ, cầm giữ, vội giữ
  2. Ư ( Phương) : - Ở, tại (Ư + địa điểm) 

- Hơn

鳥 飛 於 天 Điểu phi ư thiên: Chim bay ở trên trời

魚 游 於 水 Ngư du ư thuỷ : Cá lội ở dưới nước

停 車 坐 愛 楓 林 晚 Đình xa toạ ái phong lâm vãn

霜 葉 紅 於 二 月 花 Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa

(Dừng xe ngồi ngắm rừng phong trong buổi chiều tà

Lá sương đã đỏ hơn cả hoa tháng hai,…)

Ghi chú: 鹹 子 關 Hàm Tử quan: Tên một cửa quan trên sông Hồng 紅 河, phía trên bãi Mạn Trù 縵 櫥 6 cây số, nay thuộc huyện Châu Giang 州 江, Hưng Yên 興 安; có sách chép là Trần Nhật Duật đã đánh bại quân Toa Đô ở đây. 烏 馬 Ô Mã: Tức là Ô Mã Nhi 烏 馬 兒, tướng nhà Nguyên bị bắt ở sông Bạch Đằng.

  1. Hựu ( Hựu) :          - Lại, thêm lần nữa
  2. Ế ( Ngạt) :   - Giết chết
  3. Hải (Thuỷ) : – Biển

Ghi chú: Hải là vùng biển hẹp gần bờ, Dương là vùng biển lớn xa bờ.

Trên thế giới chỉ có 4 đại dương như Thái Bình Dương 太 平 洋, Đại Tây Dương 西 洋, Ấn Độ Dương 印 度 洋, Bắc Băng Dương 北 冰 洋,  Hải thì khá nhiều như Hồng Hải 紅 海, Hắc Hải 黑 海, Đông Hải 東 海, Tây Hải 西 海, Nam Hải 南 海,…

白 藤 海 Bạch Đằng hải: Sông Lục Đầu 六 頭, tại tỉnh Bắc Ninh 北 寧, chia làm hai nhánh chảy vào tỉnh Hải Dương 海 陽, một nhánh theo Mỹ Giang 美 江, một nhánh theo Chu Cốc Sơn 硃 谷 山 hợp lưu tại xã Đoan Lễ 端 禮, ấy là sông Bạch Đằng. Sông nầy từ giới phận huyện Thuỷ Đường 水 棠 tỉnh hải Dương chảy đến giới phận huyện An Hưng 安 興 tỉnh Quảng Yên 廣 安(cũ), rồi chuyển sang hướng Nam 29 dặm và tuôn ra cửa Nam Triệu 南 趙. Ngày xưa, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán (938), Trần Quốc Tuấn đại phá quân Nguyên (1288) cũng ở con sông này (Theo GS. Bửu Cầm, Tlđd).

  1. 嵇 (稽) Kê ( Hoà) : – Tìm hiểu, xem xét
  2. Chư ( Ngôn) : – Từ chỉ số nhiều

- Hợp âm của hai từ 之於

- Gia trong họ kép Gia Cát 諸葛

  1. Vãng ( Sách) : – Những việc đã qua, cái đã qua
  2. Cổ ( Khẩu) : – Ngày xưa, không xu phụ
  3. Quyết ( Hán) : - Thửa

- Giống chữ Kỳ, đại từ sở hữu, nghĩa là “của nó”

  1. Trưng (Sách) : - Chứng cớ
  2. Trãi(广 Nghiễm)    : – Tên một con thú có sừng chỉ  húc thẳng vào những kẻ bất nhân
  3. Ức ( Thủ) : – Đè nén, đè xuống, áp chế
  4. Trai ( Tề ) :      – Tâm chí chuyên chú vào một cái

- Cái nhà riêng để ở, để học

                                       – Cơm của nhà sư ăn

齋 戒 Trai giới: Ngày xưa sắp tế lễ tất kiêng rượu thịt, ngủ nhà riêng gọi là trai giới.

書 齋 Thư trai: Nhà để sách, phòng đọc sách

齋房 Trai phòng: Phòng được dùng để tĩnh tâm

Theo GS. Bùi Văn Nguyên trong Thơ Quốc âm Nguyễn Trãi, Nxb GD, 2003, Nguyễn Trãi sinh ra, cha của ông muốn ông phải là người trung trực nên đặt tên ông là Trãi, nghĩa chữ Hán là con thú họ hươu nai, chỉ có một sừng như tê giác, tính tình thẳng, chỉ húc kẻ gian, không húc người ngay. Lớn lên, ông tự đặt cho mình tên tự là Ức Trai, nghĩa đen là “phải cố nén mình” tránh nóng nảy. Quả nhiên, Nguyễn Trãi tính nóng và cũng được Thượng hoàng Hồ Quý Ly rất quý trọng, trao cho chức Chánh Chưởng Ngự Sử Đài 掌 御 使 臺.

  1. Ngữ pháp Cách sử dụng chữ Ư
  2. Ư : có nghĩa là Ở, Tại

- 莊 子 與 惠 子 遊 於 濠 梁 之 上 Trang Tử dữ Huệ tử du ư Hào lương chi thượng: Trang Tử và Huệ Tử đi dạo chơi ở trên cầu Hào.

- 月 出 於 東 山 之 上 Nguyệt xuất ư Đông Sơn chi thượng: Mặt trăng mọc ra ở phía trên núi Đông Sơn.

- 顏 回 聞 道 於 仲 尼 Nhan Hồi văn đạo ư Trọng Ni: Ông Nhan Hồi nghe giảng đạo ở chỗ thầy Trọng Ni.

  1. Ư: có nghĩa là Hơn

- 青 出 於 藍 而 青 於 藍 Thanh xuất ư lam nhi thanh ư lam: Màu xanh lấy ra từ màu lam mà xanh hơn màu lam).

- 冰, 水 為 之 而 寒 於 水 Băng, thuỷ vi chi nhi hàn ư thuỷ. (Băng là làm từ nước nhưng lạnh hơn nước.

- 輕 於 鴻 毛 重 於 泰 山 Khinh ư hồng mao, trọng ư Thái Sơn: Nhẹ hơn lông hồng, nặng hơn núi Thái.

Lưu ý: Khi đi với động từ thì chữ Ư dịch là ở, tại. Khi đi với tính từ thì chữ Ư dịch là hơn.

  1. 3. 於 Ư : có nghĩa là Đối với

- 廣 川 惠 於 朕 為 兄 Quảng Xuyên Huệ ư trẫm vi huynh: Quảng Xuyên Huệ đối với trẫm là anh. 

- 不 義 而 富 且 貴 於 我 如 浮 雲 Bất nghĩa nhi phú thả quý ư ngã như phù vân: Bất nghĩa mà giàu và sang đối với ta như là phù vân.

  1. BÀI TẬP THỰC HÀNH

- Giới thiệu về Nguyễn Trãi, tác phẩm Bình Ngô đại cáo và thể Cáo.

- Viết ra chữ Hán và giải thích các cụm từ sau: Đại thiên hành hoá, các đế nhất phương, hào kiệt, văn hiến chi bang, sơn xuyên phong vực,…

- Phân tích cú pháp và chỉ rõ chức năng ngữ pháp của các hư từ trong đoạn văn đã học.

Bài 15

  藍 山 實 錄 序

        朕 惟: 物 本 乎 天 人 本 乎 祖. 譬 如 木 水 必 有 根 源. 是 以 自 古 帝 王 之 興 若 商 之 始 於 有   , 周 之 始 於 有 邰. 蓋 其 本 盛 則 葉 茂, 其 源 深 則 流 長. 非 先 世 之 仁 恩 之 所 培 者 厚, 慶 澤 之 所 鍾 者 洪, 安 能 若 是 哉.        (黎 太 祖)

Phiên âm

LAM SƠN THỰC LỤC TỰ

Trẫm duy: Vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ. Thí như mộc thuỷ tất hữu căn nguyên. Thị dĩ tự cổ đế vương chi hưng nhược Thương chi thuỷ ư Hữu Nhung, Chu chi thuỷ ư Hữu Thai. Cái kỳ bản thịnh tắc diệp mậu, kỳ nguyên thâm tắc lưu trường. Phi tiên thế chi nhân ân chi sở bồi giả hậu, khánh trạch chi sở chung giả hồng, an năng nhược thị tai.           (Lê Thái Tổ)

Dịch nghĩa

BÀI TỰA CỦA SÁCH LAM SƠN THỤC LỤC

Trẫm nghĩa rằng: Muôn vật có gốc ở trời, con người có gốc gác ở tổ tiên.

Chẳng hạn như cây và nước tất phải có gốc có nguồn. Cho nên sự hưng thịnh của các bậc đế vương thời cổ như nhà Thương bắt đầu ở đất (từ họ) Hữu Nhung, nhà Chu bắt đầu ở đất (từ họ) Hữu Thai. Vậy nên, gốc của nó thịnh thì lá mới xanh tươi, nguồn của nó sâu thì dòng nước mới dài. Nếu không có sự bồi đáp về nhân ân được đầy đặn, sự chung đúc ơn đức được to lớn của các vị đời trước, thì làm sao có được như thế này,…           Minh Hải dịch

Dịch văn

BÀI TỰA SÁCH LAM SƠN THỰC LỤC

Ta nghĩ rằng: Vật có gốc ở trời, người ta có gốc ở ông tổ. Ví như cây và nước phải có gốc có nguồn. Vì thế cho nên, từ xưa bậc đế vương được hưng thịnh như nhà Thương bắt đầu ở họ Hữu Nhung, nhà Châu bắt đầu ở họ Hữu Thai. Vì gốc có thịnh   thì lá cây mới tốt, nguồn có sâu thì dòng nước mới dài. Nếu không phải đời trước bồi đắp nhân ân được sâu dày, chung đúc ân huệ được rộng lớn thì làm sao được như vậy.

  1. Trần Văn Giáp dịch(Trích Tìm hiểu khoa sách Hán Nôm, tập 1, Nxb KHXH, 1991)
  2. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
  3. Giới thiệu về Lê Thái Tổ 黎 太 祖

Lê Thái Tổ 黎 太 祖, họ Lê , huý là Lợi 利, sinh 1385-1433, quê ở Lam Sơn 藍 山 (xã Xuân Lam 春 藍, huyện Thọ Xuân 壽 春, Thanh Hoá 清 化), là con trai thứ 3 của ông Lê Khoáng 黎 曠, hào trưởng có uy tín trong vùng. Ngay từ khi còn rất trẻ, ông đã tỏ ra là người thông minh, dũng lược, đức độ hơn người, có khí tượng của bậc đế vương.

Lê Lợi là vị anh hùng dân tộc, vị lãnh tụ tối cao của cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi quân Minh xâm lược. Năm 1407, quân Minh xâm chiếm nước ta, chúng mua chuộc dụ dỗ ông ra làm quan nhưng ông kiên quyết từ chối. Đầu năm 1416, ông tập hợp lực lượng, thành lập bộ chỉ huy gồm 19 người, mở hội thề Lũng Nhai 隴 涯. Mồng 02 tháng Giêng năm Mậu Tuất 戊 戌 (1418), ông chính thức phát lệnh khởi nghĩa, lấy hiệu là Bình Định Vương 平 定 王. Mười năm giông bão, khó khăn, ông cùng các tướng lĩnh khác của bộ chỉ huy khỏi nghĩa đã đánh bại quân xâm lược Minh triều 明 朝. Đầu tháng 12 năm 1427, Lê Lợi mở hội thề Đông Quan 東 關 cùng với Vương Thông 王 通, chấp nhận giảng hoà, cho tu sửa đường sá, cung cấp lương thực cho quân Minh rút về nước.

Ông là người sáng lập ra vương triều Hậu Lê 後 黎. Đầu năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua mở đầu cho một thời kỳ mới của nền phong kiến độc lập, ông lấy hiệu là Thuận Thiên 順 天, đóng đô ở Thăng Long 昇 龍. Về chính trị, ông tổ chức lại bộ máy chính quyền, định lại các đơn vị hành chính, tổ chức lại việc học tập, thi cử tuyển chọn nhân tài, mở lại trường Quốc Tử Giám 國子監. Về quân sự và quốc phòng, ông thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông 寓 兵 於 農”, giảm bớt quân thường trực. Về nông nghiệp, ông kêu gọi nhân dân phục hồi sản xuất, thực hiện phép quân điền, chia ruộng đất công cho các làng xã để người dân có đất cấy cày, cơm no, áo ấm, ổn định cuộc sống.

Ông mất ngày 22 tháng 08 năm Quý Sửu 癸 丑 (1433). Triều đình suy tôn miếu hiệu là Lê Thái Tổ, cử văn thần Nguyễn Trãi viết văn bia Vĩnh Lăng 永 陵.

Mặc dù chỉ ở ngôi 6 năm nhưng những việc làm của ông có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nền độc lập của dân tộc.

  1. Về thể loại Tự và tác phẩm Lam Sơn thực lục 藍 山 實 錄

2.1. Thể loại Tự 

Tự hay còn gọi là Dẫn là bài viết ở đầu sách, có khi là của tác giả, nhưng thường là của người khác, một người có uy tín trong lĩnh vực nội dung của cuốn sách.

Ở đầu cuốn sách gọi là Tự hoặc Đại tự 大 序, trước một bài văn, thơ gọi là Tiểu Tự 小 序. Bài Tự thường được viết sau khi sách đã hoàn thành nên thường nói rõ nguyên do hình thành sách, mục lục toàn sách và những chỗ quan trọng, như bài Thái Sử Công tự tự 太 史 公 自 序 trong bộ Sử ký 史 記 của Tư Mã Thiên 司 馬 遷. Từ đời Đường – Tống 唐 – 宋 trở đi, loại thư tập phát triển, càng ngày càng có nhiều bài Tự viết cho sách của người khác. Rất nhiều tác phẩm đã trở thành nguồn sử liệu quý giá, quan trọng trong văn học sử và phê bình văn học.

Ngoài ra còn có loại Tặng tự 贈 序, Thọ tự 壽 序 và những bài tự về việc du chơi, yến ẩm, đàu tiên là viết lời Tự cho các thơ tặng biệt, thơ chúc thọ, thơ du chơi, về sau không có thơ cũng là Tự, trở thành một thể độc lập.

2.2. Tác phẩm Lam Sơn thực lục 藍 山 實 錄

Lam Sơn thực lục 藍 山 實 錄 là thiên hồi ký được biên soạn năm 1431, nhằm ghi lại một cách trung thực lịch sử mười năm nghĩa quân Lam Sơn quật khởi chống giặc Minh, giành lại độc lập, chủ quyền cho dân tộc. Nó còn là nguồn tài liệu quan trọng để nhận thức vẻ đẹp chính nghĩa về nhân dân và nghĩa quân Lam Sơn trong một giai đoạn thử thách lớn của lịch sử dân tộc.

Về mặt văn bản, Lam Sơn thực lục có cả thảy 6 bản chữ Hán, 5 bản hiện lưu tại thư viện Viện Hán Nôm, 1 bản do học giả Nguyễn Diên Niên phát hiện ở Thanh Hoá năm 1971. Năm 1979, GS. Hoàng Xuân Hãn đã tặng cho Viện Thông Tin Khoa

học Xã hội Việt Nam 1 bộ Trùng san Lam Sơn Thực lục 重 刊 藍 山 實 錄 in năm Vĩnh Trị nguyên niên  永 治 元 年 (1676).

Bản được sử dụng hiện nay là bản Trùng san Lam Sơn thực lục 重 刊 藍 山 實 錄 (Hồ Sĩ Dương 胡 仕 陽 san định) do GS. Trần Nghĩa dịch, chú thích và giới thiệu, có lời đề tựa là Lam Sơn thực lục tự, ký tên người viết là Lam Sơn động chủ 藍 山 洞 主 (tức Lê Lợi).

2.3. Bài tựa Lam Sơn thực lục 藍 山 實 錄 序

Đây là bài tựa ở đầu cuốn Lam Sơn thực lục do Lê Thái Tổ sai Nguyễn Trãi soạn thảo nhằm tường thuật lại quá trình, diễn biến của cuộc khởi nghĩa. Sau khi viết xong, Nguyễn Trãi dâng lên vua, Lê Thái Tổ đích thân đề tựa và ký là Lam Sơn động chủ 藍 山 洞 主 vào ngày lành (Cốc nhật 穀 日), tháng Trọng đông 仲 冬 (tháng 11) năm Thuận Thiên 順 天 thứ 4 (1431).

III. Chú giải từ ngữ

  1. Lam ( Thảo)   : – Màu xanh (màu chàm)

伽 藍 Già Lam: Chùa    名藍 Danh lam: Chùa đẹp nổi tiếng

   藍 田 Lam điền: địa danh  藍橋 Lam kiều: Nơi người đẹp ở

藍袍 Lam bào: Áo lam (áo cử nhân, áo văn nhân)

藍 田 生 玉 Lam điền sinh ngọc: Cha mẹ hiền sinh con thảo

  1. Thực (Miên)   : – Thật, sự thật, sự tích, giàu có
  2. Lục ( Kim)  : – Ghi chép, sao chép

Từ đồng âm

Sáu   Giết    Màu xanh  Hèn hạ   Sách thần   Cỏ lục

Một thứ rượu  Đất liền

  1. Tự (广 Nghiễm)   : – Bài tựa đầu sách

Từ đồng âm:

Giống như  Tiếp nối      Chữ     Chùa, cơ quan

Bày, xếp   Tế lễ      Đầu mối 自 Bản thân, từ

  1. Bạt ( Túc)   : – Bài bạt ở cuối sách
  2. Duy (Tâm)    : – Suy nghĩ

Từ đồng âm:

Độc nhất, chỉ  Cái màn   Buộc, trói buộc

  1. Mộc ( Mộc)    : – Cây cối, thực vật
  2. Bản ( Mộc)   :          – Gốc, vốn, căn bản
  3. Hồ (丿 Phiệt)   :           – Ở, tại (giới từ), sao?
  4. Tổ ( Kỳ )   : – Ông nội, tổ tiên

                                      - Tu hành đắc đạo được tôn kính

  1. Thí (Ngôn)   : – Ví dụ, thí dụ
  2. Tất ( Tâm)   : – Ắt hẳn, tất phải
  3. Căn  ( Mộc)   : – Rễ cây

葉 落 歸 根 Diệp lạc quy căn: Lá rụng về cội

  1. Nguyên (Thuỷ)   :   – Nguồn nước
  2. Thị ( Nhật)   :                 - Là, đúng, ấy, đó
  3. Dĩ ( Nhân)   :                   – Vì, lấy

以 德 行 仁 者, 王 (孟 子) Dĩ đức hành nhân giả, vương (Mạnh Tử): Người lấy đức thi hành điều nhân là bậc vương giả.

是 以 Thị dĩ = 是 故 Thị cố = Cố  :   Cho nên, vì thế

17. Tự   (Tự)    :   – Bản thân, bởi, từ

- Tự nhiên không miễn cưỡng

  1. Thuỷ ( Nữ)    : – Bắt đầu, mở đầu

Ghi chú:      Hữu Nhung: Địa danh, đất phát tích của nhà Thương

有 邰 Hữu Thai: Địa danh, đất phát tích của nhà Chu

  1. Cái ( Thảo)   :                 – Cho nên, vì vậy
  2. Thịnh ( Mãnh)   :    – Đầy đủ, sung túc
  3. Tắc  ( Đao)   :                  - Thì
  4. Diệp ( Thảo)   :                - Lá, đời (thường dùng trong sử)
  5. Mậu ( Thảo)   :                - Tươi tốt, cây cối xanh um
  6. Thâm (Thuỷ)   :     - Sâu, thâm hiểm, sâu sắc
  7. Lưu (Thuỷ)   :                  – Dòng nước, chảy, lưu loát
  8. Trường ( Trường)   :         – Dài

Trưởng                        – Lớn, đứng đầu

  1. Phi ( Phi)   : –                  Sai, trái, không phải
  2. Tiên ( Nhân)   :                - Trước, trước tiên
  3. Nhân ( Nhân)   :    - Lòng thương người, đức Nhân
  4. Ân ( Tâm)   :                   - Ơn huệ
  5. Sở ( Hộ)    :            – Từ chỉ nơi chốn

                                       - Đứng trước 1 số động từ tạo  thành cụm danh từ  

  1. Bồi ( Thổ)   : – Vun vào
  2. Giả ( Lão)   : – Trợ từ

- Đại từ đứng sau động từ tạo  thành nhóm danh

看者 Khán giả: Người xem  聽者 Thính giả: Người nghe

行者 Hành giả: Người đi 讀 者 Độc giả: Người đọc

  1. Hậu ( Hán)   : – Dày, sâu sắc
  2. Khánh (Tâm)   : - Mừng, vui mừng, chúc mừng
  3. Trạch (Thuỷ)  : – Cái đầm nước, ơn huệ

慶 澤 Khánh trạch    :   Ơn huệ

  1. Chung (Kim)    : - Chén uống rượu

                                         - Một dụng cụ để đo

                                         – Hun đúc, chung đúc

Từ đồng âm:

Cuối cùng     Cái chuông     Con sâu    Cái chén nhỏ

  1. Hồng (Thuỷ) : – To lớn
  2. An ( Miên)   : - Yên ổn, Sao?
  3. Tai ( Khẩu)   : – Trợ từ cuối câu, vậy thay
  4. Ngữ phápCách sử dụng chữ
  5. Dĩ + Danh từ + Động từ

以 筆 寫 字 Dĩ bút tả tự: Lấy bút viết chữ

以 杵 擣 衣 Dĩ chử đảo y: Lấy chày đập áo

以 珠 彈 雀 Dĩ châu đạn tước: Lấy ngọc bắn chim sẻ

以  鈴  繫  貓 項 Dĩ linh hệ miêu hạng: Lấy chuông đeo vào cổ

  1. + Danh từ + 為

以 食 為 Dĩ thực vi thiên: Lấy cái ăn làm trọng

以 和 為 貴 Dĩ hoà vi quý: Lấy hoà làm quý

以 德 為 政 Dĩ đức vi chính: Lấy đức làm chính trị

  1. + Động từ

雄 雞 之 距 不 足 以 穿 虜 甲 Hùng kê chi cự bất túc dĩ xuyên lỗ giáp: Cựa gà trống không đủ để đâm thủng áo giáo giặc.

美 酒 不 足 以 酖 虜 軍 Mỹ tửu bất túc dĩ đam lỗ quân: Rượu ngon không đủ để làm say quân giặc.

孔子 歸 魯 著 書 以 教 後 世 Khổng Tử quy Lỗ trứ thư dĩ giáo hậu thế: Khổng Tử về nước Lỗ làm sách để dạy hậu thế.

   國 以 民 立 民 以 國 存 Quốc dĩ dân lập, dân dĩ quốc tồn: Nước do dân mà thành lập, dân nhờ nước mà tồn tại.

  1. Bài tập thực hành

- Viết theo quy tắc bút thuận các từ sau: 藍, 實, 錄, 葉, 慶, 澤.

- Trình bày những hiểu biết của các anh chị về thể loại Tự.

- Phiên âm và dịch nghĩa mấy câu sau:

+ 有 德 者 必 有 言, 有 言 者 不 必 有 德. 仁 者 必 有 勇, 勇 者 不 必 有 仁 (孔子).

  + 禮 有 三 本: 天 地 者 生 之 本 也.  先 祖 者 類 之 本 也.   君 師 者 治 之 本 也.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

  1. Từ điển:

- Đào Duy Anh (1999), Hán Việt từ điển 漢 越 辭 典, Nxb VHTT, Hà Nội.

- Nhiều tác giả (2007), Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội.

- Nguyễn Tôn Nhan (2000), Hán Việt từ điển văn ngôn dẫn chứng 文 言 引 證 漢 越 辭 典, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

- Nguyễn Tôn Nhan (2002), Bách khoa thư văn hoá cổ điển Trung Quốc, Nxb VHTT, Hà Nội.

- Nguyễn Tôn Nhan (2003), Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb Văn nghệ, Hồ Chí Minh.

- Thiều Chửu (1999), Hán Việt tự điển 漢 越 字 典, Nxb VHTT, Hà Nội.

  1. Sách tham khảo:

- Nguyễn Duy Cần (2000), Trang Tử tinh hoa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội.

- Doãn Chính, Trương Giới, Trương Văn Chung (1994), Giải thích các danh từ triết học Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

- Trương Chính (1996), Bình giảng truyện Ngụ ngôn Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

- Phan Huy Chú (2005), Lịch triều hiến chương loại chí 曆 朝 憲 章 纇 志 (Viện Sử học dịch) (2 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

- Lê Quý Đôn (2006), Phủ biên tạp lục 撫 邊 雜 錄 (Nguyễn Khắc Thuần dịch) (2 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

- Lê Quý Đôn (2006), Kiến văn tiểu lục 見 聞 小 錄 (Nguyễn Khắc Thuần dịch) (2 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

- Lê Quý Đôn (2006), Đại Việt thông sử 大 越 通 史  (Nguyễn Khắc Thuần dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

- Võ Minh Hải (2007), Mấy vấn đề về văn hoá – văn học, Khoa Ngữ văn, Đại học Quy Nhơn.

- Võ Minh Hải (2007), Tiếp cận văn hoá Trung Hoa, Khoa Ngữ văn, Đại học Quy Nhơn.

- Chu Hy (1999), Tứ thư tập chú 四 書 集 註 (Nguyễn Đức Lân dịch và chú thích), Nxb VHTT, Hà Nội.

- Phạm Văn Khoái (1999), Giáo trình Hán Văn Lý Trần 李 陳 漢 文 教 程, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, – Nguyễn Hiến Lê (1996), Hàn Phi Tử 韓 非 子, Nxb VHTT, Hà Nội.

- Nguyên Hiến Lê (1996), Trang Tử – Nam Hoa Kinh, Nxb VHTT, Hà Nội.

- Nguyên Hiến Lê (1996), Khổng Tử, Nxb VHTT, Hà Nội.

- Nguyên Hiến Lê (1996), Mạnh Tử, Nxb VHTT, Hà Nội.

- Ngô Sĩ Liên (1995), Đại Việt sử ký toàn thư 大 越 史 記 全 書 (Viện Sử học dịch), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

- Nguyễn Tri Tài (2002), Giáo trình tiếng Hán  (Tập Cơ sở), Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh.

-  Lê Huy Tiêu (1993), Từ điển thành ngữ, điển cố Trung Quốc, Nxb KHXH, Hà Nội.

- Trần Trọng San (1990), Hán văn, Nxb Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh.

- Trần Trọng Sâm (1999), Cổ văn Trung Quốc, Nxb ĐHSP, Hà Nội.

- Đặng Đức Siêu (2008), Ngữ văn Hán Nôm (3 tập), Nxb ĐHSP, Hà Nội.

- Lã Bất Vi (2000),  Lã Thị Xuân Thu 呂氏春秋 (Phan Văn Các dịch), Nxb VHTT, Hà Nội.

  1. Sách tiếng Hán

- 吳新勳 (2006), 成語典, 幼福文化, 台 灣

- 趙錫如 (2005), 辭海, 將門文物, 台 灣

- 楊寬 (1992), 戰 國 史, 上 海 人 民 出 本 社, 中 國

- 范 曄 ( 南 朝 – 宋), 后漢書, 中 華 書 局

- 孔 子 (2004), 詩 經, 智 楊 出 本 社 印 行 

 – 古 文 鋻 賞 辭 典, 上 海 辭 書 出 本 社

 – 唐 詩 鋻 賞 辭 典, 上 海 辭 書 出 本 社

 – 宋 詞 鋻 賞 辭 典, 上 海 辭 書 出 本 社

- 許 慎 (2004), 說 文 解 字 (白 話 對 照), 中 原 農 民 出 本 社 

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

HÁN VĂN TRÍCH TUYỂN Bài 5

Bài 11

從 駕 還 京 師

 奪 槊 彰 陽 渡

 擒 胡 鹹 子 關

 太 平 須 致力

 萬 古 此 江 山                       

 (陳 光 啟)

     TỤNG GIÁ HOÀN KINH SƯ

Đoạt sóc Chương Dương độ

Cầm Hồ Hàm Tử quan.

Thái Bình tu trí  lực

Vạn cổ thử giang san.

(Trần Quang Khải

 

Dịch nghĩa

THEO HẦU XE VUA VỀ LẠI KINH SƯ Tước giáo bọn giặc tại bến đò Chương Dương

Tóm gọn rợ Hồ tại cửa ải Hàm Tử

Đời thái bình nên cần phải gắng hết sức mình Giang sơn này vững bền mãi muôn đời

Minh Hải dịch

Dịch thơ

PHÒ GIÁ VỀ KINH

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử tóm rợ Hồ

Thái bình nên gắng sức

Giang sơn vững muôn đời.

         Minh Hải dịch  

  1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
  2. Về tác giả Trần Quang Khải 陳 光 啟 (1248-1294), có sách chép là sinh năm 1241 (Tân Sửu), mất năm 1294 (Giáp Ngọ), là con trai thứ ba của Trần Thái Tông 陳 太 宗, em ruột vua Trần Thánh Tông 陳 聖 宗, biệt hiệu là Lạc Đạo tiên sinh 樂 道 先 生, chánh quán tại làng Tức Mặc 即 墨, phủ Thiên Trường 天 長 府, tỉnh Nam Định 南 定 省.

Ông đã trải qua các chức vụ Tướng quốc Thái uý 相 國 太 尉 dưới triều vua Trần Thánh Tông, Thượng tướng Thái sư 上 將 太 師 dưới triều vua Trần Nhân Tông 陳 仁 宗, là một trong những nhân vật chủ chốt trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông  元 蒙 (1284-1285; 1287-1288). Vì những công lao to lớn đối với triều đình và đất nước, ông được vua Trần ban tước Chiêu Minh đại vương 昭 明 大 王, chức Thượng tướng quân 上 將 軍. Theo sử cũ, ông còn để lại tập thơ Lạc Đạo tập 樂 道 集, hiện nay đã thất truyền, chỉ còn 9 bài thơ được chép trong Việt âm thi tập 越 音 詩 集 của Phan Phu Tiên 潘 孚先.

  1. Về tác phẩm Tụng giá hoàn kinh sư 從 駕 還 京 師

Ngày 09 tháng 06 năm 1285, trong cuộc kháng chiếng chống quân Nguyên lần thứ hai, khi giải phóng được kinh thành Thăng Long 昇 龍 城, ông phò giá xe vua trở lại kinh đô và làm bài thơ này.

Bài thơ thể hiện hào khí Đông A 東 阿 của thời đại, đồng thời còn là lời khuyên quyết tâm gìn giữ non sông đất nước bền vững muôn đời.

III. Chú giải từ ngữ

  1. Tụng (sách)    : - Theo hầu xe vua
  2. 2. 駕 Giá ( Mã)   : – Xe của vua đi, cưỡi
  3. Hoàn ( Sước)   : - Trở lại, trở về, hoàn trả
  4. Kinh ( Đầu)   : - To lớn, chỗ vua đóng đô
  5. Sư ( Cân)   : – Thầy, đơn vị quân đội, nhiều

京 師 Kinh sư     :   Chỗ đô hội trong nước, kinh đô

  1. Đoạt ( Đại)   : – Cướp, tước lấy, chiếm lấy
  2. Sóc (Sáo) ( Mộc)   : - Một loại vũ khí, cây giáo
  3. Chương ( Sam)   : – Rực rỡ, rõ ràng   77
  4. Dương (阝阜 Phụ) : - Mặt trời, khí dương, hướng Nam, cõi đời đang sống
  5. Độ (Thuỷ)   : - Đi qua sông, bến đò, cứu vớt

Ghi chú: 彰 陽 渡 Chương Dương độ: nay là bến Chương Dương, thuộc huyện Thường Tín 常 信 縣, tỉnh Hà Tây 河 西 省 (nay thuộc về Hà Nội 河 內). Đây là nơi mà Trần Quang Khải đánh bại Thoát Hoan 脫 驩, cũng là nơi quân dân nhà Trần thắng lớn vào năm 1285.

  1. Cầm (Thủ)   : - Bắt, vội bắt giữ
  2. Hồ ( Nhục)   : – Cái yếm bò, họ Hồ, rợ Hồ
  3. Hàm ( Lỗ)    : – Mặn, vị mặn của muối
  4. Tử ( Tử)    : – Con, tước Tử, thầy, số lẻ

Tý      :               - Chi đầu trong 12 chi, giờ tý

15. Quan   ( Môn)   : – Cửa ải, đóng, dính dáng đến

Ghi chú: 鹹 子 關 Hàm Tử quan: Nay là cửa Hàm Tử, thuộc huyện Khoái Châu 快 州 縣, tỉnh Hưng Yên 興 安 省. Đây là nơi Chiêu Văn Vương 昭 文 王 Trần Nhật Duật 陳 日 燏 đánh bại Toa Đô 唆 都 vào tháng 04 năm 1285.

  1. Thái ( Đại)   : – Rất, quá, lắm
  2. Bình ( Can)   : – Bằng phẳng, ngang bằng nhau

平 步 登 天 Bình bộ đăng thiên: Một bước lên trời

平 步 青 雲 Bình bộ thanh vân: Bỗng chốc có địa vị

平 心 靜 氣 Bình tâm tĩnh khí: Bình tĩnh không nóng nảy

平 頭 品 足 Bình đầu phẩm túc: Tuỳ tiện nói về người khác

  1. Tu ( Hiệt)   : – Nên, cần phải, đợi chờ
  2. 19. 致 Trí ( Chí)    : - Cố gắng hết sức

Ghi chú: Về chữ này, có bản chép là Nỗ (thuộc bộ ), cũng có nghĩa là “cố gắng hết sức mình, gắng sức”.

  1. Lực ( Lực)   : – Sức lực
  2. Vạn ( Thảo)   : – Muôn, 10000, số nhiều
  3. Cổ ( Khẩu)   : – Xưa, cũ

古 井 無 波 Cổ tỉnh vô ba: Giếng cũ không sóng, không bận tâm

古 稀 之 年 Cổ hy chi niên: Tuổi 70

古邱 Cổ khâu: Gò đất xưa, nấm mộ

  1. Thử ( Chỉ)   : – Đây, này, đại từ chỉ định

Ghi chú: Về chữ này, bản chữ Hán trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép là chữ Cựu (thuộc bộ Cữu ), có nghĩa là “cũ, xưa, lâu”.

  1. Giang (Thuỷ)   : – Sông, sông Trường Giang
  2. Sơn (San) ( Sơn)   : – Núi
  3. Ngữ pháp:THỰC TỪ HÁN NGỮ CỔ

Thực từ là những từ vừa có ý nghĩa từ vựng vừa có ý nghĩa ngữ pháp.

Thực từ tiếng Hán cổ được chia thành các loại sau:

- Danh từ: đây là những từ chỉ người hay sự vật, chia ra:

+ Danh từ chung: Sơn , Hà , Thân thể 身 體, Tinh thần 精 神.

+ Danh từ riêng: Hồ Chí Minh 胡 志 明, Lê Lợi 黎 利, Thăng Long 昇 龍, Hà

Nội 河 內,  Thuận Hoá 順 化.

- Đại danh từ: Đây là những từ thay thế cho danh từ: Ngã , Nhữ ,  Ngô , Chi ,…

- Động từ: Đây là những từ diễn tả động tác, hành vi của người hay sự vật, nó

được chia ra như sau:

+ Tự động từ (nội động từ, không cần tân ngữ): Đáo 到,,  Tại , Lai 來,

+ Tha động từ (ngoại động từ, cần tân ngữ): Ái , Hội , trục ,…

+ Hệ động từ (câu phán đoán, giải thích chủ ngữ): Vị , Vị ,…

+ Trợ động từ (đặt trước động từ bổ nghĩa): Năng , Ưng 應, yếu 要,

- Hình dung từ: Đây là từ biểu thị tính chất, trạng thái của người hay sự vật:

Cận , Viễn , Đại 大, Tiểu ,  Mậu , Trường , Đoản 短,

- Phó từ: Đây là loại từ tu sức, bổ nghĩa cho động từ, hình dung từ hay phó từ

khác,…: Canh 更,也, Nãi 乃, Bất 不,…

  1. Bài tập thực hành

- Hãy trình bày giá trị lịch sử và văn học của bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải.

- Viết ra chữ Hán các câu thơ sau:

- Thân thể tại ngục trung

Tinh thần tại ngục ngoại.

- Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương.

-  Phiên âm và dịch nghĩa câu sau:

- 木 必 有 本, 水 必 有 源, 人 必 有 祖 先.

 – 未 能 事 人 焉 能 事 鬼 (論 語).

Bài 12

遷 都 詔

昔 商 家 至 盤 庚 五 遷, 周 室 逮 成 王 三 徙. 豈 三 代 之 數 君 俱 徇 己 私 妄 自 遷 徙. 以 其 宅 中 圖 大 為 萬 億 世 子 孫 之 計. 上 謹 天 命 下 因 民 願 苟 便 輒 改. 故 國 祚 延 長 風 俗 富 阜, 而 丁 黎 二 氏 乃 徇 己 私 忽 天 命 罔 蹈 商 周 之 跡 常 安 厥 邑 于 玆. 致 世 代 弗 長 算 數 短 促, 百 姓 耗 損, 萬 物 失 宜. 朕 甚 痛 之 不 得 不 徙.

(李 太 祖)

THIÊN ĐÔ CHIẾU

Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỷ. Khởi tam đại chi sổ quân câu tuẫn kỷ tư, vọng tự thiên tỷ. Dĩ kỳ trạch trung đồ đại vi vạn ức thế tử tôn chi kế. Thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân nguyện, cẩu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị thị nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh võng đạo Thương Chu chi tích, thương an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc. Bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi, trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỷ.         (Lý Thái Tổ)

CHIẾU DỜI ĐÔ (Dịch nghĩa)

Xưa kia, nhà Thương đến đời vua Bàn Canh đã năm lần thiên đô, nhà Chu đến triều Thành Vương cũng đã ba lần dời chuyển. Há có phải mấy vị vua thời kỳ tam đại đều theo ý riêng của mình mà tuỳ tiện di chuyển? Lấy thế đất ở trung tâm để mưu tính việc lớn làm kế sách cho con cháu muôn đời sau. Trên thì cung kính tuân theo mệnh trời, dưới thì thể theo ý nguyện của nhân dân, nếu thấy thuận tiện thì lập tức thay đổi. Chính nhờ đó mà vận nước được kéo dài, phong tục thêm phồn thịnh. Nhưng nay, hai họ Đinh, Lê đều làm theo ý riêng của mình, coi thường mệnh trời, chẳng theo dấu cũ của nhà Thương, nhà Chu, luôn ở yên trong thái ấp của mình, do đó triều đại không kéo được dài lâu, mệnh số ngắn ngủi, trăm họ lại hao tổn, muôn vật chẳng thể thích nghi. Ta đau lòng về việc ấy nên không thể không dời chuyển được,…          Minh Hải dịch

CHIẾU DỜI ĐÔ   (Dịch văn)

Xưa, nhà Thương đến Bàn Canh 5 lần dời, nhà Chu đến Thành Vương 3 lần đổi. Há có phải mấy vị vua đời tam đại đều theo ý riêng của mình mà dời đổi hay sao? (Ấy là) do các ngài muốn đóng đô ở vị trí trung tâm để mưu tính sự nghiệp lớn làm kế sách lâu dài cho con cháu muôn vạn đời sau. (Các ngài) trên thì cung kính tuân theo mệnh trời, dưới thì theo ý nguyện của nhân dân, nếu thấy tiện lợi thì thay đổi, cho nên vận nước được dài lâu, phong tục thêm giàu thịnh. Còn hai họ Đinh Lê kia lại theo ý riêng của mình, coi thường mệnh trời, chẳng theo dấu tích của nhà Thương nhà Chu, cứ đóng mãi nơi đô ấp của mình, khiến cho triều đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật chẳng thích nghi. Trẫm đau đớn về việc đó nên không thể không di chuyển được,…

 

  1. Giới thiệu tác giả, tac phẩm và thể loại Chiếu
  2. Giới thiệu tác giả và tác phẩm Thiên đô chiếu 遷 都 詔

Vào những tháng cuối năm 1009, vua cuối cùng của nhà Tiền Lê 前黎 là Lê Ngoạ Triều 黎臥朝 băng hà, quần thần thống nhất tôn Lý Công Uẩn 李 公 蘊 (974- 1028), người làng Cổ Pháp 古 法 州 (nay thuộc huyện Đông Ngạn 東 岸 縣, phủ Từ Sơn 徐 山 府, tỉnh Bắc Ninh 北 寧 省), đang nhậm chức Điện tiền chỉ huy sứ 殿 前 指 揮 使 lên ngôi vua, lấy hiệu Thuận Thiên 順 天. Ông là người nhân ái, đôn hậu, có công khai sinh ra vương triều Lý 李 朝, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh thế lâu dài cho dân tộc. Tháng 7, mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ 李 太 祖 nhận thấy đất Hoa Lư華 閭 ẩm thấp, chật hẹp, không thuận tiên cho việc giao thương, buôn bán, cản trở về quốc phòng, không phải là thế rồng cuộn hổ ngồi, không còn thích hợp với sự phát triển của đất nước nên hạ chiếu dời đô về thành Đại La 大 羅 城, nhân thấy hình tượng rồng bay lên nên đổi tên là thành Thăng Long 昇 龍 城.

Việc dời đô trên chứng tỏ nhà Lý không chỉ chú ý về mặt quân sự mà đã bắt đầu quan tâm đến việc mở mang kinh tế, ổn định chính trị, phát triển văn hoá, đặc biệt là củng cố một hậu phương vững chắc qua việc hướng đến các địa phương rộng lớn và các vùng biên giới phía Nam cũng như phía bắc, tạo điều kiện củng cố chính quyền trung ương. Vì vậy, công việc này đã có tác dụng thúc đẩy to lớn đối với lịch sử phát triển của đất nước ta.

Bài Thiên đô chiếu 遷 都 詔 trên được được viết bằng những câu đối tự do theo lối cổ thể có xen những câu văn xuôi, do đó có người đã xếp tác phẩm này vào phần văn xuôi. Song vì số lượng câu đối nhau trong bài này khá cao nên ta cũng có thể xếp nó vào loại biền văn. Tuy nhiên, bài chiếu đã đi vào lịch sử văn học Việt Nam như một áng hùng văn có giá trị bất hủ. Tác phẩm đã thể hiện vai trò chính thức của chữ Hán trong công tác hành chánh và tổ chức nhà nước. Đồng thời đây cũng là áng văn chính luận nổi tiếng, có giá trị trên nhiều phương diện: Lịch sử, văn hoá, chính trị,… tác phẩm cũng đã góp phần khẳng định tinh thần độc lập, tự chủ một cách mạnh mẽ và quyết liệt.

  1. Thể loại chiếu

Chiếu là một loại văn bản cung đình do nhà vua ban hành để thông báo một chủ trương hay một chính sách cụ thể có tính chất giáo lệnh. Trong Kinh Thư 書 經, Chiếu được đặt ngang hàng với Cáo . Thể loại này, vào thời Xuân Thu 春 秋 gọi là Mệnh , thời Chiến Quốc 戰 國 gọi là  Lệnh , đến đời Tần đổi  Lệnh thành Chiếu. Đời Hán đã cụ thể quy định Chiếu là văn bản dùng để bá cáo với quan lại, về sau mới dùng rộng rãi để chỉ mệnh lệnh của vua được ban hành trong toàn dân.

Nội dung ra lệnh trong chiếu thư rất phong phú, bào gồm những việc như: Đăng quang, thoái vị, sách lập hoàng hậu, phong tước, kiến địa, nạp phi, lập thái tử, thăng hàm, bổ dụng, truy tặng huân công, truất giáng tội nhân, minh oan cho tội đồ,… đối với dân gian thì có thể là chiếu cầu hiền, khuyến nông, khuyến ngư, đê điều, tuyển đinh, bổ sung quân dịch,… Lời văn trong chiếu thư phải trang nghiêm, rõ gọn, đúng quy cách trong việc dùng từ, đặt câu, có thể viết bằng văn xuôi thông thường, có thể viết bằng thể biền ngẫu cổ thể, cận thể và có khi là văn vần. Chiếu cũng có công thức mở đầu và kết thúc. Ví dụ, mở đầu thường viết: Đại thiên hành hoá 代 天 行 化 (thay trời làm việc hoá sinh, hành đạo), Thừa thiên hưng vận  承 天 興 運 hoặc Phụng thiên thừa vận 奉 天 承 運 (Vâng mệnh trời làm hưng thịnh vận nước). Khi kết thúc thường viết Bá cáo hà nhĩ  播 告 遐 邇 (bá cáo gần xa), Khâm thử  欽 此 (kính vâng, kính tuân theo những điều đã ban bố này).

Nói về chất văn trong thể loại chiếu, sách Đại Nam hội điển sự lệ 大 南 會 典 事 例 của triều Nguyễn 阮 朝 đã viết: “Ôi! Lời nói của nhà vua tôn nghiêm vời vợi ở trên để cho trăm quan noi theo, vạn nước tin cậy, cho nên việc bổ quan chức, tuyển chọn hiều tài thì nghĩa lý sáng rõ như mặt nhật, mặt nguyệt, ra bài đối sách thì khí êm như ơn mưa móc. Chiếu cáo sức trời thì bút nở hoa như sao sông Ngân, ra quân  đánh dẹp thì oai linh như sấm sét, ân xá tai nạn thì lời êm như mùa xuân, nghiêm pháp gia hình thì lời lạnh như sương mùa thu. Đại lược chiếu thư là như thế,…”.

Một số bài chiếu tiêu biểu trong lịch sử Trung Hoa và Việt Nam:

- Trong lịch sử Trung Hoa: Chiếu cầu hiền của Hán Cao Tổ, Chiếu sai bảo người trong nước chăm việc nông tang của Hán Cảnh Đế, Chiếu ban bố lễ nhạc, Chiếu lệnh các châu trong nước phải cử hiền tài của Đường Thái Tông.

- Trong lịch sử Việt Nam:  Lâm chung di chiếu (1128) của Lý Nhân Tông, Thiện vị chiếu (chiếu nhường ngôi) (1224) của Lý Chiêu Hoàng, Chiếu cầu hiền tài (1429) của Lê Thái Tổ do Nguyễn Trãi soạn, Tức vị chiếu (chiếu lên ngôi) (1788) của Quang Trung – Nguyễn Huệ, Chiếu Cần Vương (1885) của Hàm Nghi, Thoái vị chiếu (1945) của Bảo Đại,…

III. Chú giải từ ngữ

  1. 1. 遷 Thiên ( Sước)  :      – Di dời, thay đổi, giáng chức
  2. Đô ( Ấp)   :             - Chỗ vua đóng đô, kinh thành
  3. Chiếu ( Ngôn)  :      – Một loại văn bản hành chính
  4. Tích ( Nhật)  :                  – Xưa, đêm
  5. Thương ( Khẩu)  :    - Buôn bán, bàn bạc

                                                - Tên triều đại (XXI–XVI TCN)

  1. Gia (Miên)  :           – Nhà (nghĩa trừu tượng)
  2. Chí ( Chí)  :            – Đến, cho đến

Ghi chú: 盤 庚 Bàn Canh : Vua đời thứ 17 nhà Thương (người mở đâu là Thành Thang 成 湯), là người mở đầu nhà Ân 殷.

五 遷 Ngũ thiên : Năm lầm dời đô, Vua Thang đóng đô ở Thương Khâu (Hà Nam – Trung Quốc), Trọng Đinh dời đô đến Thành Cao (Hà Nam), Hà Đản Giáp dời đô đến phủ Chương Đức (Hà Nam), Tổ Ất dời đến phủ Thuận Đức (Hà Đông – Trung Quốc), Bàn Canh dời đến huyện Yển Sư (Hà Nam).

  1. Chu ( Khẩu)  :        – Khắp, vòng khắp, vòng tròn

- Tên triều đại (XI – III TCN)

  1. Thất (Miên)  : – Nhà (nghĩa cụ thể)
  2. Đãi ( Sước)  : - Tới, đến, bắt, đến nhà bắt

Ghi chú: 成 王 Thành Vương: Vua thứ 3 nhà Chu, niên đại từ 1115-1079 TCN

  1. Tỷ ( Sách)  : – Dời, di dời   84

Ghi chú: 三 徙 Tam tỷ: Ba lần chuyển đô, Chu Văn Vương đóng ở đến huyện Hộ, tức Tây Kỳ (nay thuộc Thiểm Tây), Chu Vũ Vương dời đô đến Trường Yên, đời Thành Vương lại chuyển đô đến Lạc Dương (Hà Nam).

  1. Khởi ( Đậu)  : – Há, há có phải (từ nghi vấn)
  2. Đại ( Nhân)  : – Đời, thay thế

Ghi chú: 三 代 Tam đại: Tức ba triều đại Hạ , Thương , Chu thời cổ đại Trung Quốc.

  1. Chi (丿Phiệt)  : – Trợ từ kết nối: Mà, của

 - Đi, đại từ: Ấy, đó

  1. Sổ ( Phốc)  : – Vài, mấy

Số                     - Con số, chữ số, toán số

  1. Quân ( Khẩu)  : – Vua, anh (đại từ nhân xưng)
  2. Câu ( Nhân)  : - Đều
  3. Tuẫn (Tuận) (彳 Sách)  : – Theo, noi theo
  4. Kỷ ( Kỷ)   : – Bản thân mình
  5. Tư ( Hoà)  : - Riêng
  6. Vọng ( Nữ)   : – Càn rỡ, bậy bạ, bừa bãi,…
  7. Tự ( Tự)   : – Từ, chính bản thân mình
  8. Dĩ ( Nhân)  : – Lấy cái gì đó
  9. 24. 其 Kỳ ( Bát)  : – …của nó
  10. Trạch (Miên)  : – Nhà, cái nhà cụ thể
  11. Trung ( Cổn ) : – Chính giữa, trung tâm

Trúng                             - Đúng, bị 

  1. Đồ ( Vi)   :   – Hình vẽ, mưu tính
  2. Đại ( Đại)  : - To lớn
  3. Vi (Trảo)  : – Làm

Vị      :                - Vì

  1. Ức ( Nhân)  : – 100 triệu, số nhiều
  2. Thế ( Nhất)  : – Đời, 30 năm là một thế
  3. Tử ( Tử)   : - Con
  4. Tôn ( Tử)   : – Cháu
  5. Kế ( Ngôn)  : – Mưu lược
  6. Cẩn   ( Ngôn)  : – Cung kính, thận trọng   85
  7. Thiên (Đại)  : – Trời
  8. Mệnh ( Khẩu)  : - Số phận

Ghi chú: 天 命 Thiên mệnh (Fatalisme): Mệnh trời, là một quan niệm cơ bản trong học thuyết của Khổng Tử 孔 子, ngài quan niệm số mệnh con người là do trời có ý chí định đoạt, không ai có thể cưỡng lại được. Ngài sử dụng quan niệm này để bảo vệ cho chế độ đẳng cấp, bảo vệ cho những bất bình đẳng trong xã hội đương thời. Có gì đơn giản hơn (và cũng hiệu quả hơn) là sử dụng chiếc gậy định mệnh để biến những cái bất hợp lý thành hợp lý. Mọi cái đều do trời, trời quyết định tất cả.

  1. Nhân ( Vi)   : - Theo, thuận theo, nguyên nhân
  2. Dân ( Thị)  : – Dân chúng
  3. Nguyện ( Hiệt)  : – Lòng mong muốn, nguyện ước
  4. Cẩu ( Thảo)  : – Sơ sài, qua loa, nếu
  5. 便 Tiện ( Nhân)  : - Thuận lợi
  6. Triếp ( Xa)   : - Ngay lập tức, liền
  7. Cải ( Phốc) : - Sửa đổi, sửa chữa
  8. Cố ( Phốc)  : – Cho nên, cũ, xưa
  9. Tộ ( Kỳ)   : – Vận nước, phúc (phước)
  10. Diên  ( Dẫn)  : – Kéo dài, mời
  11. Trường ( Trường)  : - Dài

Trưởng     :                  - Lớn

  1. Phong ( Phong)  : – Gió, phong tục
  2. Tục ( Nhân)  : – Bình thường, cõi đời
  3. Phú (Miên)  : – Giàu
  4. Phụ ( Phụ)  : – Thịnh vượng
  5. Nhi ( Nhi)  : – Mà, thì, là, và,…
  6. Đinh ( Nhất)  : – Con trai trưởng thành, họ Đinh
  7. Lê (Thử) : – Màu đen, họ Lê
  8. Thị ( Thị)  : - Họ người
  9. Nãi (丿Phiệt)  : – Bèn, liền
  10. Hốt ( Tâm)  : – Thình lình, xao nhãng, bỏ sót
  11. Võng ( Võng)  : – Không, chẳng
  12. Đạo ( Túc)  : – Dẫm, đạp
  13. Tích ( Túc)  : – Dấu vết, còn sót lại
  14. Thường ( Cân)  : – Luôn, thường xuyên
  15. An (yên) (Miên)  : – Không rối loạn, bình an
  16. Quyết ( Hán)  : – …của nó (= Kỳ)
  17. Ấp ( Ấp)   : - Một đơn vị hành chính
  18. Vu ( Nhị)  : – Ở, tại
  19. Tư ( Thảo)  : – Ấy, đó, đây, này
  20. Trí ( Chí)  : – Gắng hết sức, dẫn tới, dẫn đến
  21. Phất ( Cung)  : – Chẳng, không
  22. 算 Toán (Trúc)  : – Tính toán, toán số
  23. Đoản ( Thỉ)  : – Ngắn ngủi, ngắn
  24. Xúc ( Nhân)  : – Thúc đẩy cho tiến lên

短 促 Đoản xúc    :   Ngắn ngủi, không được kéo dài

  1. Tính (Tánh) ( Nữ)   : – Họ
  2. Hao (Lỗi)  : – Giảm dần, mất dần, tin tức
  3. Tổn (Thủ)  : – Tốn kém
  4. Vật (Ngưu)   : - Những gì có kích thước, hình dáng, thực vật, động vật, đồ vật
  5. Thất ( Đại)   : – Mất
  6. Nghi (Miên)  : – Thích hợp, phù hợp
  7. Trẫm ( Nguyệt)  : – Tiếng vua tự xưng

Ghi chú: Từ Trẫm trước đây là một từ phổ biến, là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất như Ngã, Ngô, Dư,… Đến năm Tần Thuỷ Hoàng 秦 始 皇 thứ 26 thì quy định Trẫm là tiếng vua tự xưng, người khác không được sử dụng.

  1. Thậm ( Cam)  : – Rất, quá, lắm
  2. Thống ( Nạch)  : – Đau (về cảm giác cơ thể)
  3. Đắc ( Sách)  : – Đạt, được, hay, giỏi,…
  4. Ngữ phápCách dùng chữ Chi

- Giới từ: 昇 龍 即 今 之 京 城 也. Thăng Long tức kim chi kinh thành dã

(Thăng long tức là kinh thành ngày nay vậy)

貉 將 之 女 Lạc tướng chi nữ (Con gái của quan lạc tướng)

- Kiêm từ:   chi = 於 是 (giới từ + đại danh từ): Ở đó, điều đó

而 都 之 (Nhi đô chi): mà định đô ở đó

王 深 念 之 (Vương thâm niệm chi): Ngài nhớ kỹ điều ấy

  1. BÀI TẬP THỰC HÀNH

- Viết lại chữ Hán bài Thiên đô chiếu (trích đoạn đã học).

- Xác định từ loại của các chữ trong bài.

- Viết theo quy tắc bút thuận các chữ sau: 偏, 遷, 痛, 昔,蹟, 跡.

Bài 13

興 道 大 王

王 姓 陳 名 國 峻, 安 生 王 柳 之 子 也, 封 興 道 大 王. 安 生 王 與 太 宗 有 隙, 臨 終 執 王 手 曰 :“汝 不 能 為 我 得 天 下 吾 不 瞑 目”. 王 深 念 之 舉 動 惟 謹, 重 興 間 兩 退 元 兵 為 當 時 武 功 第 一, 及 卒 立 廟 祀 之.

                 (越 甸 幽 靈 集)

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Vương tính Trần danh Quốc Tuấn, An Sinh vương Liễu chi tử dã, phong Hưng Đạo đại vương. An Sinh vương dữ Thái Tông hữu khích, lâm chung chấp vương thủ, viết: “Nhữ bất năng vị ngã đắc thiên hạ, ngô bất minh mục.” Vương thâm niệm chi, cử động duy cẩn. Trùng Hưng gian lưỡng thoái Nguyên binh, vi đương thời vũ công đệ nhất, cập tốt, lập miếu tự chi.           (Việt điện u linh tập)

Dịch nghĩa

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Ngài họ Trần, tên là Quốc Tuấn, con trai của An Sinh vương (Trần) Liễu, được phong tước Hưng Đạo đại vương. Ông An Sinh vương và vua (Trần) Thái Tông có mối hiềm khích, lúc sắp mất cầm tay vương mà nói rằng: “Nếu con không vì ta mà đoạt lấy thiên hạ này thì ta chết cũng không nhắm mắt.”. Ngài nhớ kỹ những điều ấy, mọi cử động đều cẩn thận. Trong những năm đời Trùng Hưng, (ngài) đã hai lần đánh lui được quân Nguyên, là người có chiến công bậc nhất thời bấy giờ, đến lúc chết, được lập miếu và cúng tế.     Minh Hải dịch

 

  1. Về tác phẩm Việt điện u linh tập 越 甸 幽 靈 集

Cùng với Lĩnh Nam chích quái 嶺 南 摭 怪, Việt điện u linh tập 越 甸 幽 靈 là hai bộ huyền sử tiêu biểu của Việt Nam, các tác phẩm này được viết bằng chữ Hán và có vay mượn khá nhiều trong tài liệu Trung Hoa, cộng thêm các mẩu chuyện thần thoại truyền khẩu hay mấy tập thần tích ở các địa phương soạn thành những   đoản thiên tiểu thuyết. Lời tựa của sách được viết năm 1329, niên hiệu Khai Hựu , đời Trần Hiến Tông 陳 憲 宗, có bản chép là năm Kỷ Tỵ 己 巳, niên hiệu Khai Thái 開 泰 thứ 6 đời vua Trần Minh Tông 陳 明 宗.  Về tác giả bộ Việt điện u linh tập được đa số các học giả xưa nay như Lê Quý Đôn 黎 貴 惇, Phan Huy Chú 潘 輝 (thời trung đại), Dương Quảng Hàm (1941), Huỳnh Khắc Dụng (1959), Durand và Nguyễn Trần Huân (1970) thừa nhận là Lý Tế Xuyên 李 濟 川. Về sau có nhiều văn gia xen vào tăng bổ, phê bình như Nguyễn Văn Chất 阮 文 質, Lê Tự Chi 黎 嗣 之, Lê Hữu Hỷ 黎 有 喜, Cao Huy Diệu 高 輝 耀, Kim Miễn Muội 金 免 昧, Gia Cát Thị 諸 葛 氏,… Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV), sống vào khoảng đời Trần Hiến Tông (1329- 1341), chưa rõ quê quán và hành trạng. Những thông tin về ông có thể tóm gọn như sau: “Ông là người đời Trần, vì trong các truyện của ông phần nhiều nhuốm màu sắc luận lý, nhân sinh quan của Nho giáo 儒 教, một học thuyết tôn giáo vừa mới bành trướng vào cuối thời kỳ nhà Trần. Thân thế của ông mãi đến nay vẫn chưa ai được rõ, mà chỉ biết được các chức vụ của ông được chép bằng những từ ngữ rối rắm khác nhau và chúng ta có thể hiểu đại lược là:

- Thư hoả chính chưởng, giữ Kinh Đại Tạng

- Phụng ngự thuộc trung phẩm

- Chuyển vận sứ thuộc lộ An Tiêm  (nội chữ Lộ cũng có thể nói chức này thuộc về nhà Trần, vì Lộ được đặt ra từ năm 1242 đời Trần Thái Tông),…”

(Theo Ngọc Hồ – Nhất Tâm  (1992), Việt điện u linh, Nxb Cửu Long, TP. Hồ Chí Minh).

Việt điện u linh tập là tập truyện ghi chép những việc u linh ở cõi nước Việt, bao gồm 27 truyện chuyên ghi chép những truyện vốn lưu hành về công tích của 27 vị thần linh ở nước ta.

Tác phẩm được chia thành 3 phần:

- Lịch đại nhân quân 歷 代 人 君 bao gồm 6 thiên: Sĩ Nhiếp 士 燮, Phùng Hưng 馮 興, Triệu Quang Phục 趙 光 服– Lý Phật Tử 李 佛 子, Hậu Tắc 后 稷, Nhị Trưng phu nhân 二 徵 夫 人, Mỵ Ê 媚 嫛.

- Lịch đại phụ thần 歷 代 輔 臣 bao gồm 11 thiên: Lý Hoảng 李 晃, Lý Ông Trọng 李 翁 仲, Lý Thường Kiệt 李 常 傑, Tô Bá 蘇 伯, Phạm Cự Lượng 范 巨 量, Lê Phụng Hiểu 黎 奉 曉, Mục Thận 穆 慎, Trương Hống 張 吼 – Trương Hát 張 喝, Lý Phục Man 李 服 蠻, Lý Đô Uý 李 都 尉, Cao Lỗ 高 魯.

- Hạo khí anh linh 顥 氣 英 靈 bao gồm 10 thiên: Hậu Thổ phu nhân 後 土 夫 人, Đồng Cổ 銅 鼓, Long Đỗ vương khí 龍 肚 王 氣, Khai Nguyên thần 開 元 神, Phù Đổng thổ địa thần 扶 董 土 地神 (khác với Phù Đổng thiên vương trong Lĩnh Nam chích quái), Bạch hạc thổ thần 白 鶴 土 神, Hải Thanh quận 海 清 郡, Nam Hải long vương 南 海 龍 王.

Nhìn chung, Việt điện u linh tập mặc dù còn một số hạn chế nhưng không thể xem thường. Bởi lẽ, đây là một tập sách có giá trị lịch sử, phản ánh đời sống tinh thần dân tộc ta trong một thời kỳ rất xa xưa với những phong tục khá xa lạ với chúng ta.

Giá trị của nó còn được thể hiện ở chỗ, Việt điện u linh tập đã dung chứa những tâm tư tình cảm, lòng yêu nước và tinh thần ý chí quật cường. Các vị nhân quân, nhân thần, anh linh hạo khí đều có nguồn gốc từ những vị anh hùng dân tộc. Có lẽ vì vậy, chúng ta mới thấy được sự gần gũi của tác phẩm trong đời sống văn học dân tộc.

Hiện nay, văn bản Việt điện u linh  tập đã có đến 8 bản chữ Hán. Bản dịch quốc ngữ đầu tiên được xuất bản năm 1960 do cụ Trịnh Đình Rư phiên âm dịch nghĩa và chú thích. Tính đến nay (2009), văn bản quốc ngữ chúng ta đã có thêm 2 bản nữa, bản do Ngọc Hồ – Nhất Tâm dịch và chú thích (Nxb Cửu Long, 1992), bản do GS. Đinh Gia Khánh dịch chú (Nxb Văn học, 2001). Tuy vậy, văn bản vẫn còn nhiều điểm khả thủ và chúng ta vẫn chờ đợi một công trình nghiên cứu, khảo sát văn bản cụ thể và hoàn chỉnh hơn nữa.

III. Chú giải từ ngữ

  1. Hưng ( )  : – Dấy lên, nổi dậy

Hứng          - Cảm hứng

  1. Đạo ( Sước)  : – Con đường, khái niệm triết học

                                      - Dẫn đưa, chỉ dẫn, dạy dỗ

Ghi chú: 大 王 Đại vương: tên một tước, tước vị này thường phong tặng cho những vương hầu cùng huyết thống với vua nhưng có nhiều công lao đối với triều đình và hoàng tộc. Triều đại nhà Trần có nhiều vị đại vương đã có công lao to lớn đối với đất nước như: Chiêu Minh đại vương 昭 明 大 王, Tĩnh Khang đại vương 康 大 王,…

  1. Trần ( phụ) : – Bày tỏ, bày ra, họ Trần
  2. Tuấn (Sơn ) : – Cao lớn, giỏi giang

Ghi chú:  Về chữ này có bản chép là Tuấn (người tài giỏi)

5. An (Yên)        Miên  : – Yên ổn, Sao ? (từ dùng để hỏi)   90

6. Sinh (Sanh)   ( Sinh)  : – Sống, sinh sản, nuôi, học trò

  1. Liễu ( Mộc)  : – Cây liễu

章 台 柳 Chương Đài liễu: Liễu Chương Đài (sự trinh thuận)

“Khi về hỏi liễu Chương Đài/ Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay.

Tình sâu mong trả nghĩa dày/ Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?…”   (Truyện Kiều)

Ghi chú: An Sinh Vương 安 生 王 Trần Liễu 陳 柳 là con trai cả của ông Trần Thừa 陳 承, anh trai của Thái Tông 太 宗 Trần Cảnh 陳 煚. Thuở còn hàn vi, cả hai anh em đều theo chú họ là Thái sư 太 師 Trần Thủ Độ 陳 守 度 làm quan cho triều đình nhà Lý. Sau Trần Cảnh lên ngôi vua mới phong cho anh tước vương, gọi là An Sinh Vương.

8. Dã    ( Ất)   : – Trợ từ cuối câu: Vậy

  1. Phong ( Thốn)  : – Gói lại, ban tặng

Ghi chú: Hai từ Phong kiến 封 建 được rút gọn từ cụm từ 封 爵 建 地 (phong

chức tước, ban đất đai.

Từ đồng âm

Ngọn núi   Bệnh phong   Giàu thịnh

Gió    Con ong    Cây phong

  1. Dữ ( Cữu) : - Cùng, đều, chơi thân, cấp cho
  2. Tông (Miên) : – Tổ tiên, dòng phái

Ghi chú: Người sáng lập ra dòng họ gọi là Tổ, thứ nữa gọi là Tông 宗, thường gọi là Tông miếu 宗 廟, nghĩa là miếu thờ tổ tông. Tục thường gọi các vị đời trước của dòng họ là Tổ tông 祖 宗.

  1. Hữu ( Nguyệt)  : – Có (mang nghĩa sở hữu)

Hựu                  - Thêm

  1. Khích (Phụ)   : - Oán hận, hiềm oán

                                      - Khe cửa, khe vách

  1. Lâm ( Thần)  : - Vào lúc, đến, sắp sửa

臨 難 Lâm nạn: bị nạn  臨 危 Lâm nguy: gặp nguy hiểm

臨行 Lâm hành: lúc lên đường (thơ cổ)

“Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu/ Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.

Nay quyên đã giục oanh già/ Ý nhi đã gáy trước nhà líu lo,…”.        (Chinh phụ ngâm)

  1. Chung ( Mịch)  : - Cuối cùng
  2. Chấp ( Thổ)  : – Cầm nắm, câu nệ, cố chấp

執 經 從 權 Chấp kinh tòng quyền: Nắm giữ nguyên tắc, xử lý công việc

tuỳ theo hoàn cảnh.

“Xưa nay trong đạo đàn bà, chữ trinh kia cũng có ba bày đường.

Có khi biến, có khi thường, có quyền nào phải một đường chấp kinh…”          (Truyện Kiều)

  1. Thủ ( Thủ)  : – Tay, tự tay làm

Từ đồng âm:

Lấy  Giữ  Đầu  Kẻ cắp, kẻ trộm

手 足 無 措 Thủ túc vô thố: Không biết đặt tay chân vào đâu, chỉ sự

lúng túng, hoang mang, luống cuống

  1. Nhữ (Thuỷ)  : – Sông Nhữ, anh, mày (đại từ)
  2. Năng ( Nhục)  : – Tài năng, thuận theo
  3. Vi ( Trảo)  :          – là, làm

Vị                      - Vì

  1. Ngô ( Khẩu)  : – Tôi, ta (đại từ nhân xưng)

莊子: “吾 生 也 有 涯 而 知 也 無 涯”. 謂 人 的 生 命 有 限: Trang

Tử: Ngô sinh dã hữu nhai nhi tri dã vô nhai vị nhân đích sinh mệnh hữu hạn: Trang Tử nói: “Cuộc sống của ta thì hữu hạn, sự hiểu biết thì vô hạn”. Vậy, cho nên mới gọi sinh mệnh của con người là sự hữu hạn. 

  1. Minh (Mục)  : – Nhắm mắt

Từ đồng âm:

Sáng  Thề, ước hẹn  Ghi, khắc Tiếng kêu

  1. Mục (Mục)  : - Con mắt
  2. Thâm (Thuỷ)  : – Nước sâu, sâu thẳm
  3. Niệm ( Tâm)  : - Nghĩ nhớ, ghi nhớ
  4. Cử ( Cữu)  : – Giờ lên, cử động, tiến cử
  5. Động ( Lực)  : - Sức mạnh, hoạt động
  6. Cẩn ( Ngôn)  : - Thận trọng
  7. Trùng ( Lý)   : - Lặp lại, chồng chất, lại nữa

Trọng                – Nặng, coi trọng

Ghi chú: 重 興 Trùng Hưng là niên hiệu của Phật Hoàng 佛 皇 Trần Nhân Tông 陳 仁 宗 (Thiên Bảo 天 保: 1279-1284; Trùng Hưng 重 興: 1285-1293)

  1. Gian ( Môn)  :  – Khoảng giữa

Gián                       - Ngăn cách

  1. Lưỡng (Nhập)  :   - Hai
  2. 退 Thoái ( Sước)  :   – Thoái lui, đánh lùi 
  3. Nguyên ( Nhân)  : – Khởi đầu, nguyên đán

- Tên triều đại ở Trung Quốc

Ghi chú: Nguyên (1271-1368): Đây là một triều đại do dân du mục Mông Cổ 蒙 古 thiết lập và là cũng một trong những ngoại tộc cai trị khá lâu ở Trung Nguyên. Tính từ khi Thiết Mộc Chân 鐵 木 真 lên ngôi Đại Hãn 大 汗 (1206), xưng hiệu là Thành Cát Tư Hãn 成 吉 思 汗 và mở đầu cho cuộc chiến tranh bành trướng tàn khốc chưa từng thấy đến khi chính quyền đô hộ nhà Nguyên trên đất Trung Hoa bị Chu Nguyên Chương 朱 元 璋 (có sách chép ) lật nhào (1368), chính quyền của người Mông Cổ truyền nối được 15 đời (gồm 4 đời mang quốc hiệu Mông Cổ, 11 đời mang quốc hiệu Nguyên (bắt đầu từ đời Nguyên Thế Tổ 元 世 祖 Hốt Tất Liệt 忽 必 ). Đế quốc Nguyên Mông 元 蒙 từng 3 lần đưa quân sang xâm lược Việt Nam (1225, 1285, 1288) nhưng cả ba lần đều bị quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của quý tộc, vương hầu nhà Trần chỉ huy đánh cho đại bại (Theo Nguyễn Khắc Thuần, Thế thứ các triều đại Trung Quốc, Nxb Giáo dục, 2000).

  1. Đương ( Điền)   : - Lúc, đảm nhiệm, bằng nhau
  2. Thời (Thì) ( Nhật)   : – Lúc, thời gian, giờ, mùa

當 時 Đương thời    :   Lúc ấy, lúc đó

  1. Vũ (Võ) ( Chỉ )  : - Võ, đối với văn; vết chân

                                       – Lấy uy sức mà thu phục người

Từ đồng âm:

Bao trùm   Lông chim  Múa

Mưa   Chim anh vũ  Vua Vũ nhà Hạ

  1. Công ( Lực) : - Công lao, sức lực
  2. Đệ ( Trúc) : – Thứ bậc
  3. Cập ( Hựu) : - Kịp, đến lúc, đến khi
  4. Tốt ( Thập) : - Chết, xong hết, cuối cùng

- Binh lính, quân sĩ

41. Lập   ( Lập)   : – Dựng nên, đứng một mình

  1. Miếu (广Nghiễm : - Đền thờ

Ghi chú: Nơi thờ phật gọi là Tự , chữ Tự còn có nghĩa là một cơ quan của triều đình như 大 理 寺, 太常寺, 光 祿 寺, 太 僕 寺, 鴻 臚 寺, 尚 寶 寺 (六 寺),…

Nơi thờ thần gọi là Miếu , nơi thờ tiên thánh gọi là Quán , nơi thờ tổ tiên gọi Từ hoặc Từ đường 祠 堂.

  1. Tự (Kỳ) :    - Thờ cúng, tế lễ
  2. Việt ( Tẩu) :          - Vượt qua

                                      - Nước Việt thời Xuân Thu

                                       - Dân tộc Việt ở phía Nam

                                       – Tên nước Đại Việt

古 詩: 越 鳥 巢 南 枝, 胡 馬 嘶 北 風: Cổ thi: Việt điểu sào nam chi, Hồ mã tê

bắc phong (Chim Việt làm tổ ở cành phía Nam, ngựa Hồ nghe gió bắc liền hý vang): ngụ ý chỉ cho tấm lòng nhớ về quê hương, cố quốc.

  1. Điện ( Điền) : - Bờ cõi, khu vực
  2. U ( Yêu) :    - Sâu kín, mờ tối
  3. Linh ( Vũ) :          - Thiêng liêng, linh hiển
  4. Tập ( Mộc) :          - Chim đậu thành bầy, tụ họp

                                                 – Sách gom lại thành quyển

  1. Ngữ pháp

- Câu tỉnh lược động từ (dùng để phán đoán, giải thích chủ ngữ):

王, 安 生 王 柳 之 子 也. Vương, An Sinh vương Liễu chi tử dã: Ngài là

con của An Sinh vương Liễu.

徵 側, 貉 將 之 女. Trưng Trắc, Lạc tướng chi nữ: Trưng Trắc là con gái

quan Lạc tướng.

- Cách sử dụng của từ Chi

+ Giới từ (liên hệ từ trung tâm và định ngữ tạo nên cụm từ)

安 生 王 柳 之 子 An Sinh vương chi tử: Con của An Sinh vương.

民 之 父 母 Dân chi phụ mẫu: Cha mẹ của dân.

+ Đại từ (dùng làm tân ngữ)

王 深 念 之 Vương thâm niệm chi: Ngài nhớ kỹ điều ấy.

立 廟 祀 之 Lập miếu tự chi: Dựng miếu thờ ngài.

  1. Bài tập thực hành

- Học thuộc lòng từ vựng bài Hưng Đạo đại vương.

- Phiên âm và dịch nghĩa mấy câu sau:

-興 道 大 王 陳 國 峻, 安 生 王 柳 之子.

- 陳 國 峻, 兩 退 元 兵, 為 陳 朝 之 第 一 名 將 也.

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 

HÁN VĂN TRÍCH TUYỂN bài 4

Bài 8

愛 蓮 說

  水 陸 草 木 之 花 可 愛 者 甚 蕃. 晉 陶 淵 明 獨 愛 菊. 自 李 唐

來, 世 人 甚 愛 牡 丹. 予 獨 愛 蓮 之 出 淤 泥 而 不 染, 濯 清 漣 而 不 妖, 中 通 外 直, 不 蔓 不 支, 香 遠 益 清, 亭 亭 淨 植, 可 遠 觀 而 不 可 褻 玩 焉. 予 謂: “菊, 花 之 隱 逸 者 也. 牡 丹, 花 之 富 貴 者 也. 蓮, 花 之 君 子 者 也.”

噫! 菊 之 愛, 陶 後 鮮 有 聞. 蓮 之 愛, 同 予 者 何 人? 牡 丹 之 愛,

宜 乎 眾 矣.           (周 敦 頤)

ÁI LIÊN THUYẾT

Thuỷ lục thảo mộc chi hoa, khả ái giả thậm phiền. Tấn Đào Uyên Minh độc ái cúc.

Tự Lý Đường lai thế nhân thậm ái mẫu đơn. Dư độc ái liên chi xuất ứ nê nhi bất nhiễm,

trạc thanh liên nhi bất yêu, trung thông ngoại trực, bất mạn bất chi, hương viễn ích thanh,

đình đình tịnh thực. Khả viễn quan nhi bất khả tiết ngoạn yên. Dư vị: “Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã. Mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã. Liên, hoa chi quân tử giả dã”.

Y! Cúc chi ái. Đào hậu tiển hữu văn, liên chi ái đồng dư giả hà nhân? Mẫu đơn chi

ái nghi hồ chúng hỹ.              (Chu Đôn Di)

Dịch nghĩa

NÓI VỀ VIỆC YÊU HOA SEN

Hoa của các loài cây cỏ dưới mặt nước, trên mặt đất, loại đáng yêu rất là nhiều. Ông

Đào Uyên Minh đời Tấn chỉ yêu riêng một mình hoa cúc. Từ thời nhà Đường của họ Lý, người đời lại rất yêu hoa mẫu đơn. Ta chỉ yêu một mình hoa sen mà mọc lên từ chốn bùn lầy nước đọng nhưng không hề bị nhiễm bẩn, gội con sóng trong mà chẳng hề có cái đẹp lả lơi, bên trong thì thông suốt, bên ngoài thì thẳng thuốm, không cành không nhánh, mùi hương tỏ xa càng thêm thơm mát, đứng dong dỏng cao khiết. Chỉ có thể đứng xa mà nhìn không thể bỡn cợt nó được. Ta cho rằng:“Cúc là loài hoa của sự ẩn dật. Mẫu đơn là loài hoa phú quý. Còn hoa sen là loài hoa quân tử vậy”.

Ôi! Sự yêu hoa cúc, sau ông Đào Uyên Minh ít nghe nói tới, sự yêu hoa sen cùng ta là

ai? Sự yêu hoa mẫu đơn thì thích hợp với mọi người vậy.        Minh Hải dịch

Dịch văn

NÓI VỀ YÊU HOA SEN

Hoa của loài thảo mộc dưới nước trên đất, thứ đáng yêu rất nhiều. Đào Uyên

Minh đời Tấn yêu hoa cúc. Từ Lý Đường lại đây, người đời rất mến chuộng mẫu đơn. Duy một ta yêu sen ở chỗ bùn lầy đọng bẩn mà không nhiễm, gội sóng trong mà chẳng có cái đẹp lả lơi. Trong thông ngoài thẳng, không nhánh không cành, hương xa càng thanh đạm. Từ dưới nước mọc thẳng lên trong sạch, có thể đứng xa mà nhìn mà chẳng ngắm khinh nhờn. Ta cho rằng: Cúc là hoa ẩn dật, mẫu đơn là hoa phú quý, sen là hoa quân tử.

Ôi! Kẻ yêu cúc, sau họ Đào ít nghe nói đến. Người yêu sen, kẻ cùng ta, là người nào? Còn người yêu mẫu đơn đương nhiên nhiều vậy.           GS. Nguyễn Tri Tài dịch

  1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và trường phái ẩn dật trong văn hoá

Trung Hoa

  1. Về tác giả Chu Đôn Di 周 敦 頤 và bài văn Ái Liên Thuyết 愛蓮說 Chu Đôn Di 周 敦 頤 (1017 – 1073, có sách nói sinh năm 1016), vốn tên là Đôn Thực 敦 實, nhưng vì kỵ huý vua Anh Tông 英 宗 nhà Tống nên đổi thành Đôn Di 敦 頤. Ông tự là Mậu Thúc 茂 叔, người Đạo huyện 道 縣, tỉnh Hồ Nam 胡 南. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở với cậu là Trịnh Hướng 鄭 向 làm quan Long Đồ Các Đại học sĩ 龍 圖 閣 大 學 士.

Hành trạng của ông, không thấy chép rõ trong sử sách, chỉ biết rằng ông đã từng giữ các chức quan như: Chủ bạ 主 簿, Phán quan 判 官, Thông phán 通 判, Tri huyện 知 縣… sau thời gian lặn lội ở những vùng núi cao, đèo sâu, ông cáo bệnh về Lư Sơn 盧 山 làm nhà ở Liên Hoa Phong 蓮 華 峰, phía trước có suôi róc rách nên đời sau xưng tụng là Liêm khê tiêm sinh 濂 溪 先 生.

Về phẩm chất đạo đức, ông đã được Phan Bội Châu 潘 佩 珠 khen là từ Xuân Thu đến giờ ngoài Khổng Tử ra chỉ có ông là đức hạnh vẹn toàn. Nếu Vương An Thạch 王 安 石 là người khơi nguồn thì Chu Đôn Di xứng đáng là bậc khai sơn của trường phái Lý học 理 學 Tống Nho 宋 儒.

Về tác phẩm, ông có Thái cực đồ thuyết 太 极 圖 說 (chỉ hơn 250 chữ), Thông thư 通 書, đời sau biên tập thành bộ Chu Tử toàn thư 周 子 全 書 .

Về quan điểm triết học, Chu Đôn Di đã dựa vào Dịch truyện 易 傳 và thuyết Trung Dung 中 庸, các kinh điển của Nho gia 儒 家, có tham bác một phần tư tưởng của Đạo gia 道 家 và Vô cực đồ 無 极 圖 của Trần Đoàn lão tổ 陳 摶 老 祖 (tự là Đồ Nam 圖 南, hiệu là Hi Di 希 夷) một đạo sĩ thời Ngũ đại 五 代 mà đề ra một hệ thống

lý thuyết mới có hệ thống, rõ ràng khúc chiết, đơn giản cho Lý học Tống Nho.

Ông dùng quan điểm của Đạo gia sáng tạo ra học thuyết vũ trụ sinh thành với quan điểm Vô cực nhi thái cực 极 而 太 极, ông cho rằng 5 loại vật chất như Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ là từ hai khí âm dương sinh ra, âm dương sinh ra hai mặt đối lập nhưng thống nhất với nhau ở thái cực. Thái cực là Lý 理, tức tinh thần khách thể nhưng thái cực lại được sản sinh từ Vô 無, nghĩa là từ trong hư vô sinh ra hữu. Ông cũng kế thừa quan điểm tư tưởng Thành do Tử Tư 子 思 và Mạnh Tử 孟 子 đề xuất, tư tưởng Thành là sự thể hiện bản thể vô cực, lại là bản tính chí thiện của con người, là căn bản của của đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong con người. Từ đó, ông quy bản thể của vũ trụ, nhân tính trong đạo đức con người có tiên nghiệm và luân lý đạo đức phong kiến vào một chữ Thành, trở thành nguyên lý cao nhất mà lý trời nắm giữ.

Theo Chu Đôn Di, muốn đạt đến Thành, người ta phải chủ ở Tĩnh (Chủ tĩnh 主 靜), tức không hề có ham muốn vật chất tầm thường, phải yêu mến yên tĩnh ở tâm, không vọng động, tức là phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt trật tự lễ giáo phong kiến, thấu được cái lý. Qua đó có thể thấy tư tưởng triết học của Chu Đôn Di, về thực chất là phục vụ cho lợi ích và địa vị của giai cấp thống phong kiến đương thời.

Theo GS. Đặng Thiều Ngọc 鄧 韶 玉, trong Cổ văn giám thưởng từ điển 古 文 鋻 賞 辭 典, Thượng Hải Từ Thư xuất bản xã, trang 1255, “bài văn  Ái Liên Thuyết là một trong những danh tác tản văn thời Tống, nó không chỉ ẩn hàm tư tưởng sâu sắc, nghệ thuật độc đáo. Toàn văn chỉ có 119 chữ. Nó bộc bạch về phẩm cách của các loài hoa. Đối với hoa sen, bài văn đã miêu tả khá chi tiết về phẩm cách của nó trong sự đối ứng với tính cách người quân tử và luận bàn về tình cảm yêu mến hoa sen của người quân tử. Do đó, nó có nội dung trữ tình thú vị, hấp dẫn, chủ đề tư tưởng rất minh bạch. Trong bài văn tác giả sử dụng thủ pháp nhân hoá để minh hoạ cho các phẩm cách cao khiết của người quân tử, mượn hoa để nói người. Ẩn dật, phú quý, quân tử, tác giả sử dụng 3 hình ảnh này để tỷ dụ cho 3 loài hoa Cúc, Mẫu đơn, Liên. Điều đó biểu lộ khí tượng chân chính của con người, ca tụng sự kiên trinh của bản thân và giới thuyết cho hệ thống tư tưởng của mình” (Minh Hải dịch).

  1. Về trường phái ẩn sĩ trong văn hoá Trung Hoa

Trong các thư tịch cổ Trung Hoa, người xưa thường dùng các khái niệm ẩn sĩ 隱 士, u nhân 幽 人, dật nhân 逸 人, cao sỹ 高 士,…để ám chỉ những người có tư tưởng xuất thế, xa lánh chốn quan trường, vui thú điền vương, không vướng nợ công danh…Trong Hậu Hán thư 后 漢 書 có Dật dân liệt truyện 逸 民 列 傳, Tấn thư 晉 書, Đường thư 唐 書, Tống sử 宋 史, Minh sử 明 史…cũng có Ẩn dật truyện 隱 逸 傳, Nam Tề thư 南 齊 書 có Cao dật truyện 高 逸 傳, bộ Thanh sử cảo 清 史 稿 có mục Di dật truyện 移 逸 傳. Kê Khang 嵇 康, Hoàng Phủ Mật 皇 甫 謐 (Tấn 晉 代) có viết Cao sỹ truyện 高 士 傳, Viên Thục 袁 蜀 viết Chân ẩn truyện 真 隱 傳… tất cả những tác phẩm này tuy có tên gọi khác nhau nhưng có chung một nội dung phản ánh, có cùng một đối tượng thể hiện, đó là ẩn sỹ. Vậy ẩn sỹ là gì? Theo Hậu Hán Thư 后 漢 書, Dật dân liệt truyện 逸 民 列 傳 (Nam Triều 南 朝 Tống Phạm Việp 范 曄 soạn, Đường Lý Hiền 李 賢 chú thích, Trung Hoa Thư Cục), ẩn sĩ là những ngời có đạo đức, tài năng, vốn có thể trở thành quan lại nhưng vì một lý do nào đó họ không muốn làm quan. Họ có thể chủ động rời bỏ quan trường hoặc không tham gia quan trường, tìm về nơi thôn dã dựng lều quy ẩn. Họ lấy việc tu thân, tác thi, trước thuật làm niềm vui an lạc, ít quan tâm đến thế sự đương thời.

Sách Cao sĩ truyện 高 士 傳 của Hoàng Phủ Mật 皇 甫 謐 cho rằng, Sào Phủ 巢 父, Hứa Do 許 由 là những ẩn sĩ đầu tiên của Trung Hoa. Đến cuối thời Thương Ân 商 殷 có 3 ẩn sĩ nổi tiếng là Khương Thượng 姜 尚, Bá Di 伯 夷, Thúc Tề 叔 齊.

Trong Luận ngữ 論 語 có nhắc đến 3 nhân vật là Trường Thư 長 沮, Kiệt Nịch 桀 溺 và Sở Cuồng Tiếp Dư 楚 狂 接輿. Thời Xuân Thu, Giới Tử Thôi 介子 推 (có khi gọi là Giới Chi Thôi 介 之 推) là 1 ẩn sĩ nổi tiếng. Đoàn Can Mộc 段 干 木 sống vào thời Nguỵ Văn Hầu 魏 文 侯 cũng là một ẩn sĩ hữu danh. Nhan Xúc    thời Chiến Quốc và các học giả theo trường phái Lão Trang cũng là những u nhân nổi tiếng. Lão Đam 老 聃, Trang Chu 莊 周 trong trước tác của mình đã phát biểu khá nhiều luận điểm liên quan đến vấn đề này nên được hậu nhân tôn xưng là ông tổ của trường phái ẩn dật. Thời Tần mạt 秦 末, Hán sơ 漢 初, ẩn sĩ trung hoa nổi tiếng là Dĩ thượng lão nhân 苡 上 老 人 và Thương sơn tứ hạo 商 山 四 皓,…

Về ẩn sĩ, theo Đông Phương Sóc 東 方 朔 có thể phân làm hai loại: Kẻ trốn vào trong núi (sơn lâm 山 林) là tiểu ẩn 小 隱, vì không thắng được những cám dỗ về vật chất nên mới trốn vào núi. Còn những người ở lại kinh thành (triều thị 朝 巿) là đại ẩn 大 隱. Họ tự có công phu tu dưỡng rất tốt nên chẳng sợ những thứ cám dỗ bình  thường. Đại diện cho loại đại ẩn có Trúc lâm thất hiền 竹 林 七 賢 do Kê Khang 嵇 康, Nguyễn Tịch 阮 籍 chủ trương thành lập. Đến đời Đường Tống 唐 宋, các ẩn sĩ ngày càng được triều đình trọng vọng như Điền Nham Du 田 岩 瑜, Vương Hi Di 王 僖 宧, Tư Mã Thừa Trinh 司 馬 承 貞, Trần Đoàn 陳 摶,… Trong bộ Tam quốc diễn nghĩa 三 國 演 義 của La Quán Trung 羅 貫 忠 (Minh 明) đã miêu tả khá chi tiết cuộc sống ẩn dật của Tư Mã Đức Tháo 司 馬 德 操, Từ Thứ 徐 庶, Gia Cát Lượng 諸 葛 亮 ở Ngoạ Long Cương 臥 龍 岡.

Nhìn chung, con đường trở thành 01 ẩn sĩ trong xã hội phong kiến Trung  Hoa rất phức tạp, đa dạng. Mỗi triều đại, mỗi hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra những động lực khác nhau, quan niệm khác nhau về ẩn sĩ và chủ nghĩa ẩn dật. Tuy nhiên, dù quan niệm nào, dù thật hay giả, dù đại ẩn hay tiểu ẩn thì tất cả cũng đã góp phần làm nên

diện mạo phong phú cho văn hoá ẩn dật Trung Hoa.

Con đường trở thành ẩn sĩ trong văn hoá Trung Hoa có thể khái quát thành mấy dạng thức như sau:

- Ẩn cư phản đối chế độ thống trị: Trường Thư 長 沮, Kiệt Nịch 桀溺,…

- Ẩn cư tránh nguy hiểm, cầu an: Tôn Đản 孫 誕, Kê Khang 嵇 康,…

- Ẩn cư để thoát khỏi thị phi chốn quan trường: Bạch Cư Dị 白 居 易, Phạm Lãi 范 蠡,…

- Ẩn cư vì yêu sự tự do, không màng danh lợi: Sào Phủ 巢 父, Đào Tiềm 陶 潛,…

- Ẩn cư để chờ thời: Khổng Minh 孔明, Ninh Thích 寧 適, Lưu Cơ  劉  基,…

- Ẩn cư để tìm đường đến với quan trường: Khương Thượng 姜 尚, Phó Duyệt 傅 悅,…

Từ một số dạng thức trên, ta có thể phân loại ẩn sĩ Trung Hoa thành theo các tiêu chí như sau:

- Ẩn sĩ khí tiết

- Ẩn sĩ đạo đức

- Ẩn sĩ học giả

- Ẩn sĩ là đạo sĩ hoặc hoà thượng

- Ẩn sĩ là tài sĩ, tao nhân mặc khách

- Ẩn sĩ sống bừa bãi phóng túng

- Ẩn sĩ chờ thời

III. Chú giải từ ngữ

  1. Ái ( Tâm)   : – Yêu, mến

愛 屋 及 烏 Ái ốc cập ô: Yêu mái nhà yêu cả con quạ trên mái

愛 莫 能 助 Ái mạc năng trợ: Yêu mà không thể giúp được

  1. Liên ( Thảo)   : - Hoa sen

Một số từ chỉ hoa sen

Hà    菡 苕 Hàm thiều

芙 蕖 Phù cừ   芙 蓉 Phù dung

蓮 葉 Liên diệp: Lá sen  蓮 房 Liên phòng: Đài sen, toà sen

蓮 子 Liên tử: Hạt sen  蓮 鬚 Liên tu: Râu sen

蓮 藕 Liên ngẫu: Ngó sen, củ  蓮 座 Liên toà: Nơi thờ phật

蓮 步 Liên bộ: Gót sen, gót chân người con gái đẹp

“Sương in mặt tuyết pha thân/ Sen vàng lãng đãng như gần như xa,…”   (Truyện Kiều)

“Thôi cười nọ lại nhăn mày liễu/ Ghẹo hoa kia lại đến gót sen,…”   (Cung oán ngâm khúc)

  1. Thuyết ( Ngôn)   : - Nói

Thuế          – Thuyết phục

Duyệt                                               - Vui, đẹp lòng

道 聽 途 說 Đạo thính đồ thuyết: Chuyện đầu đường xó chợ

說 風 涼 話 Thuyết phong lương thoại: Miệng nam mô một bồ dao găm,

lòng độc ác

說 短 道 長 Thuyết đoản đạo trường: Nói cái hay, bàn cái dở

  1. Lục ( Phụ)    : - Đất liền
  2. Thậm ( Cam)    : - Rất, quá
  3. Phiền (phồn)( Thảo) : - Cỏ tốt xanh rì, nhiều, đông đúc
  4. Tấn ( Nhật)    : – Tên triều đại (265 – 420)
  5. Đào ( Phụ)    : – Đồ sành, mừng rỡ, họ Đào
  6. Uyên ( Thuỷ)    : – Vũng nước sâu, uyên áo
  7. 10. 明 Minh ( Nhật)     : - Sáng, rõ ràng

Ghi chú: 陶 淵 明 Đào Uyên Minh (365 – 427), tên  Tiềm 潛, tự là Nguyên Lượng 元 亮, hiệu là Ngũ Liễu Tiên Sinh 五 柳 先 生, là người đất Sài Tang 柴 桑, Tầm Dương 尋 陽, từng làm huyện lệnh Bành Trạch 彭 澤 nên còn gọi là Đào Bành Trạch 陶 彭 澤. Ông là đại ẩn sĩ, đại văn học gia thời Đông Tấn 東 晉. Thơ của ông cực kỳ phóng khoáng, khí khái, tinh thần quật cường, nổi tiếng nhất là các bài như: Ngũ liễu tiên sinh truyện 五 柳 先 生 傳, Đào hoa nguyên ký 桃 花 源 記, Quy khứ lai từ  歸 去 來 辭.

Về hành trạng: ông sinh ra và lớn lên trong một thời kỳ chính trị hủ bại. Tuy xuất thân trong một gia đình quyền quý, ông nội là Đào Mậu 陶 茂, cha là Đào Dật 陶 逸 đều làm đến chức Thái Thú 太 守. Ông ngoại là Mạnh Gia 孟 嘉 đảm nhiệm chức Chinh tây đại tướng quân 征 西 大 將 君. Song, lúc ông chào đời thì gia cảnh suy vi và khi trưởng thành ông bị tiêm nhiễm tư tưởng Lão Trang nên có chí ẩn dật sơn. Năm 29 tuổi có làm chức Liễu Châu tế tửu 柳 州 祭 酒, đến đời Tấn An Đế 晉 安 帝 (niên hiệu Nghĩa Hi 義 熙) ông được bổ làm huyện lệnh Bành Trạch, được 80 ngày thì bỏ về (năm 405). Từ năm 41 tuổi quyết tâm quy ẩn, đến khi chết được tặng thuỵ là Tĩnh Tiết 靖 節.  Thơ văn của ông đều đạt thành tựu cao, hiện còn 126 bài với nội dung phong phú, đa dạng như Tặng Dương trưởng sử 贈 陽 長 史, Nghĩ cổ 擬 古, Ẩm tửu 飲 酒,… tinh thần không chịu khom lưng vì 5 đấu gạo (ngũ đấu mễ 五 斗 米) và phẩm cách của ông không chịu hoà chung với thế tục được các thế hệ thi nhân đời sau ngưỡng mộ. Tiểu sử của ông được chép kỹ trong Tấn thư 晉 書 (quyển 94) và Nam sử 南 史 (quyển 75).

  1. Độc ( Khuyển)   : - Tên 1 loài thú           – Lẻ loi, một mình
  2. Cúc ( Thảo)   : - Tên 1 loài hoa

菊 月 Cúc nguyệt: Tháng 8

菊 秀 蘭 芳 Cúc tú lan phương: Chỉ người quân tử

杞 菊 延 年 Kỷ cúc diên niên: Chỉ mong muốn được trường thọ

  1. Lý ( Mộc)   : – Cây lý, họ Lý, hành lý

Từ đồng âm:

Sửa chữa, lý lẽ    Dặm, làng   Cá chép

Quê mùa    Giày    Bên trong

瓜 田 李 下 Qua điền lý hạ: ruộng dưa cây lý (đạo của người quân tử)

  1. Đường ( Khẩu)   : – Nói lung tung, hoang đường

- Tên triều đại (618 – 907)

            – Họ Đường  

唐 唐 Đường đường: Hiên ngang, bệ vệ

唐 人 Đường nhân: Chỉ người Trung Quốc ở nước ngoài

唐 書 Đường thư: Bộ sử về triều đại nhà Đường

唐 堯 Đường Nghiêu: Vua Nghiêu, quốc hiệu là Đường

唐 虞 Đường Ngu: Vua Nghiêu, vua Thuấn

  1. Mẫu ( Ngưu)   : – Giống đực, con đực
  2. Tẫn ( Ngưu)   : – Giống cái, con cái
  3. Đan (Đơn) ( Chủ)   : – Màu đỏ

丹 詔 Đan chiếu: Sắc mệnh của vua

丹 藥 Đan dược: Thuốc tiên, linh đơn

丹 心 Đan tâm: Tấm lòng son

丹 青 Đan thanh: Nét vẽ

丹 墀 Đan trì: Thềm cung vua, cung vua

丹 桂 Đan quế: Thi đỗ, người tài

丹 台 Đan đài: Cung vua

“Câu cẩm tú đàn anh họ Lý/  Nét đan thanh bậc chị chàng Vương,…” (Cung oán ngâm khúc)

“Cùng nhau chầu chực đan đài/  Thoả lòng cố cựu vẹn tài kim lan,…”        (Lưu nữ tướng)

“Công rằng:Đan quế hai nhành/ Bảng vàng thẻ bạc đã đành làm nên,…”      (Lục Vân Tiên)

“Còn trên thế ít nhiều dư phúc/ Chắc linh đài chín khúc đan tâm,…”        (Tự tình khúc)

“Tiếng thánh thót cung đàn thuý dịch/ Giọng nỉ non ngón địch đan trì” (Cung oán ngâm khúc)

Phụ chú về danh hiệu các loài hoa

桂 花 Quế hoa: Cửu lý phiêu hương (Hương bay chín dặm)

牡  丹  Mẫu đơn: Hoa trung vương hậu, Hoa vương (Hoàng hậu trong các loài hoa, vua trong của hoa)

杜 鵑 Đỗ quyên: Hoa trung Tây Thi (Tây Thi trong các loài hoa)

蓮 花 Liên hoa: Hoa trung tiên tử (Nàng tiên trong các loài hoa)

水 仙 Thuỷ tiên: Lăng ba tiên tử (nàng tiên giỡn sóng)

菊  花 Cúc hoa: Hoa trung tứ quân tử chi nhất (một trong bốn loài hoa quân tử)

蘭 花 Lan hoa: Thiên hạ đệ nhất hương (mùi thơm nhất thiên hạ)

月  季 Nguyệt quý: Hoa trung hoàng hậu (hoàng hậu trong các loài hoa)

山  茶 Sơn trà: Hoa trung trần phẩm (phẩm cách cao khiết trong các loài hoa)

  1. Dư ( Quyết) : - Ta, tôi (đại từ nhân xưng)
  2. Ứ ( Thuỷ) : - Nước đọng lại không chảy

Ghi chú: Có bản chép là (污) 汙 Ô  mang nghĩa “Nước đục, không sạch sẽ”

  1. Nê ( Thuỷ) : – Bùn lầy, bùn dơ

Nệ          - Bó buộc, câu nệ

  1. Nhiễm ( Thuỷ) : - Nhuộm, nhuốm bẩn, lây sang
  2. Trạc ( Thuỷ) : – Tắm, giặt, gội, giội nước
  3. Thanh ( Thuỷ) : – Nước trong, trong suốt           – Xong hết

Từ đồng âm:

Âm thanh Màu xanh  Chuồng xí

清 風 Thanh phong: Gió mát  清 夜 Thanh dạ: Đêm trong

清 談 Thanh đàm: Nói suông  清 涼 Thanh lương: Mát mẻ

清 明 Thanh minh: Trời trong  清 規 Thanh quy: Giới luật

清 新 Thanh tân: Mới mẻ, sáng sủa

清 心 寡 慾 Thanh tâm quả dục: Tấm lòng sạch sẽ, ít ham muốn

清 白 傳 家 Thanh bạch truyền gia: Thanh liêm chính trực

清 風 兩 袖 Thanh phong lưỡng tụ: Quan thanh liêm

清 談 誤 國 Thanh đàm ngộ quốc: Nói suông không ích cho đất nước

清 靜 無 為 Thanh tĩnh vô vi: Tĩnh tâm không nhu cầu vật chất

“Vườn Tây uyển khúc trùng thanh dạ/ Gác Lâm xuân điệu ngã đình hoa”(Cung oán ngâm khúc)

“Đã thương mới dám ngỏ lời/ Nhỡ trong thanh sử hôm mai ghi lòng,…”    (Trinh thử)

  1. Liên (Thuỷ) : – Sóng gợn lăn tăn, sóng nhỏ

Lãng : Sóng nói chung  Ba : Sóng lớn hơn Liên

Lan : Sóng lớn hơn Ba  Đào : Sóng cả, sóng dữ

  1. Yêu ( Nữ) : - Đẹp, quái lạ, lẳng lơ
  2. Mạn ( Thảo) : – Loài cây bò lan, bò lan
  3. Chi ( Chi) : – Cành, nhánh
  4. Hương ( Hương) : - Mùi thơm, lời khen
  5. Ích ( Mãnh) : - Càng, thêm lên, giàu có

- Tên Châu Ích

  1. Đình ( Đầu) : - Nhà nghỉ mát

亭 亭 Đình đình    :   Đứng sừng sững

  1. Tịnh (Thuỷ) : - Sạch sẽ
  2. Thực ( Mộc) : - Thực vật, trồng trọt
  3. Viễn ( Sước) : - Xa
  4. Quan ( Kiến)   : - Xem, xem xét kỹ

Quán         – Am thờ của đạo Lão

觀 鼎 Quan đỉnh: Ngấp nghé muốn tiếm ngôi vua

坐 井 觀 天 Toạ tỉnh quan thiên: Ếch ngồi đáy giếng

  1. Ngoạn ( Ngọc) : - Đồ chơi, đi chơi

- Đùa giỡn

玩 世 Ngoạn thế: Thái độ không chấp nhận quy củ của xã hội

玩 月 Ngoạn nguyệt: Thưởng trăng, ngắm trăng

  1. Tiết ( Y) : - Cái áo lót, dơ bẩn, sàm sỡ
  2. Ẩn ( Phụ) : - Núp, trốn, thương xót

Ấn          - Tựa, dựa

  1. Dật ( Sước) : – Ở ẩn, yên vui

逸 品 Dật phẩm: Phong cách cao quý

逸 思 Dật tứ: Ý tứ cao siêu khác thường

“Thấy Sinh dật tứ đường bay/ Ông càng thêm trọng thêm say mười phần”    (Ngọc Kiều Lê)

  1. Phú (Miên) : – Giàu có
  2. Quý ( Bối) : - Sang trọng
  3. Y ( Khẩu) : – Ôi, than ôi (thán từ)
  4. Tiển ( Ngư) : – Ít, hiếm

-  Tươi tốt, đẹp

  1. Nghi ( Miên) : – Nên, thích đáng, phù hợp

宜 室 宜 家 Nghi thất nghi gia: Con gái về nhà chồng

“Trăm nghìn dặm quản chi non nước/ Chữ nghi gia mừng được phải duyên”   (Ai tư vãn)

“Ước sao lại cứ như lời/ Xe loan trăm cỗ đưa người nghi gia,…”        (Quốc sử diễn ca)

  1. Chúng Mục : - Đông, nhiều, nhiều người
  2. Hỹ Thỉ : – Vậy (lời dứt câu)
  3. Đôn Phốc : – Đầy đặn, đôn hậu
  4. Di Hiệt : – Cái má
  5. Ngữ pháp Cách sử dụng động từ trong cổ văn Hán ngữ

Động từ trong tiếng Hán cổ được phân thành hai loại:

Nội động từ 內 動 詞 hay còn gọi là Tự động từ 自 動 詞

Ngoại động từ 外 動 詞 hay còn gọi là Tha động từ 他 動 詞. Trong phần này, chúng tôi chỉ trình bày cách sử dụng của Ngoại động từ.

  1. Dùng theo cách trí động

Một số ngoại động từ được dùng với ý nghĩa “làm cho”, “Làm chi trở nên” đối

với tân ngữ của nó, cách sử dụng này được gọi là cách sử dụng trí động,

Ví dụ như:

樵 夫 伐 木 而 小 之 Tiều phu phạt mộc nhi tiểu chi: Tiều phu chặt cây gỗ rồi

chẻ nhỏ nó ra.

生 死 而 肉 骨 Sinh tử nhi nhục cốt: Làm cho người chết sống lại, làm cho

xương có thịt.

買 臣 深 怨 常 欲 死 之 Mãi Thần thâm oán thường dục tử chi: (Chu) Mãi

Thần có oán cừu rất sâu lúc nào cũng muốn giết nó.

古 之 為 治 者 將 以 愚 民 Cổ chi vi trị giả tương dĩ ngu dân: Những người trị

quốc đời xưa, muốn làm cho dân ngu.

  1. Dùng theo cách ý động

Một số động từ được sử dụng với ý nghĩa “coi là”, “cho là” đối với tân ngữ của

nó thì cách sử dụng đó được gọi là ý động. Ngoại động từ thuộc loại này do danh từ, tính từ chuyển thành. Đây cũng là 1 trong những đặc điểm cơ bản của động từ tiếng Hán – Sự linh hoạt về từ loại của từ.

諸 侯 用 夷 禮 則 夷 之 Chư hầu dụng di lễ tắc di chi: Chư hầu dùng lễ của

man di thì cũng coi là man di.  

人 主 自 智 而 愚 人 Nhân chủ tự trí nhi ngu nhân: Bậc nhân chủ tự coi mình

là trí mà coi người khác là ngu.

登 泰 山 而 小 天 下 Đăng Thái sơn nhi tiểu thiên hạ: Đừng leo lên núi Thái

rồi xem thiên hạ là nhỏ.

草 樹 半 空 低 日 月 Thảo thụ bán không đê nhật nguyệt: Cây cối giữa lưng

chừng trời cho mặt trời mặt trăng là nhỏ.

乾 坤 隻 眼 小 塵 埃 Càn khôn chích nhãn tiểu trần ai: Đất trời thu vào tầm

mắt cho cuộc đời là nhỏ.

  1. Bài tập thực hành

- Hãy trình bày những hiểu biết của anh chị về trường phái ẩn sĩ trong văn hoá

văn học Trung Hoa và Việt Nam.

- Viết ra chữ Hán và dịch nghĩa mấy câu sau:

+ Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam sơn.

+ Nhất chi xung phá song tiền nguyệt, bất đáo La Phù mộng diệc hương.

+ Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

- Phân tích cú pháp một số câu trong bài Ái liên thuyết.

Bài 9

南 國 山 河

南 國 山 河 南 帝 居

截 然 定 分 在 天 書

如 何 逆 虜 來 侵 犯

汝 等 行 看 取 敗 虛

(李 常 傑)

NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

(Lý Thường Kiệt)

SÔNG NÚI NƯỚC NAM

Sông núi nước Nam thì vua nước Nam cai quản

Rõ ràng đã được phân chia tại sách trời

Có làm sao bọn giặc ngỗ ngược kia đến đây xâm phạm

Rồi đây chúng bay sẽ thấy và nhận lấy sự thất bại hoàn toàn                    Minh Hải dịch

Dịch thơ

SÔNG NÚI NƯỚC NAM

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm lược

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

PGS. Bùi Duy Tân dịch

  1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
  2. Về tác giả Lý Thường Kiệt李 常 傑

Lý Thường Kiệt 李 常 傑 (1019-1105), tên thật là Ngô Tuấn 吳 俊, tự là Thường Kiệt 常 傑. Sau nhờ có công lớn, ông được các vua nhà Lý , ban cho quốc tính 國 姓 nên lấy tên tự làm tên chính, nên gọi là Lý Thường Kiệt. Khi mất, ông được ban tên thuỵ là Quảng Châu 廣 州.

Theo sử cũ, quê của ông ở phường Thái Hoà 泰 和 坊, thuộc kinh thành Thăng Long 昇 龍 城. Song, theo bài văn khắc trên chuông chùa Bắc Biên 北 邊 寺, gần Hà Nội 河 內 và trong cuốn Tây hồ chí 西 湖 志 thì ông vốn là người làng An Xá 安 舍, huyện Quảng Đức 廣 德, thuộc khu vực phía Nam hồ Tây, còn  Phường Thái Hoà chỉ là nơi ở sau này, khi đã giữ những chức vụ trọng yếu của triều đình.

Bản thân Lý Thường Kiệt là người tinh thông thao lược, có tài văn chương, từng giữ chức Thái uý 太 尉, là quan trọng thần phục vụ qua ba đời vua Thái Tông 太 宗, Thánh Tông 聖 宗, Nhân Tông 仁 宗 của triều Lý 李 朝. Ông là người có công lớn trong việc kiến thiết và bảo vệ độc lập dân tộc như đánh Tống , bình Chiêm , chặn đứng các cuộc xâm lược của ngoại bang nên được các vua nhà Lý tin dùng, nhân dân kính phục.

Về trước tác của ông, ngoài bài thơ Nam quốc sơn hà 南 國 山 河, tương truyền ông còn là tác giả của bài hịch văn nổi tiếng là Phạt Tống lộ bố văn 伐 宋 露 布 文. Bài văn này được viết vào năm 1075, khi ông đã biết rõ âm mưu của Tống Thần Tông 宋 神 宗, thừa tướng 承 相 Vương An Thạch 王 安 石 và phái Biến pháp trong triều đình nhà Tống (Trung Quốc 中 國) thời bấy giờ. Đây là một âm mưu chính trị thâm độc, là sự xâm lược của Tống triều, đồng thời cũng là sự chuyển đổi và hướng các mâu thuẫn trong nội bộ tập đoàn phong kiến sang mâu thuẫn dân tộc, ra bên ngoài. Đứng trước âm mưu đó, Lý Thường Kiệt đã chủ động tổ chức quân đội đánh vào các châu Khâm , Liêm để phá vỡ hậu cứ chiến tranh của quân Tống.

  1. Về bài thơ Nam Quốc Sơn Hà 南 國 山 河

Bài thơ này còn có tên gọi khác là Thần thi 神 詩, nhan đề Nam quốc sơn hà là do nhóm biên soạn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2, nhà xuất bản Văn học, in năm 1976 đặt ra. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư 大 越 史 記 全 書 của Ngô Sĩ Liên 吳 士 連 (đời Hậu Lê 後 黎), được tục biên từ bộ Đại Việt sử ký 大 越 史 記

của Lê Văn Hưu 黎 文 休 (đời Trần ) và Đại Việt thông sử 大 越 通 史 của Lê Quý Đôn  黎 貴 惇 (Lê Mạt 黎 末) thì tác giả của bài thơ này là Thái uý Lý Thường Kiệt.

Tác phẩm có nhiều dị bản khác nhau. Trong Khảo và luận một số thể loại, tác gia, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, PGS Bùi Duy Tân đã xác nhận bài thơ này hiện đã có 28 dị bản khác nhau. Bài thơ xuất hiện trong thời gian Lý Thường Kiệt chỉ huy quân và dân Đại Việt đánh tan mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ 郭 逵 cầm đầu kéo sang xâm lược nước ta vào năm 1077, trước phòng tuyến sông Như Nguyệt 如 月 (tức Sông Cầu).

Tuy nhiên, với hình thức là một bài thơ nhưng nội dung lại là lời hịch, nó có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập quan trọng trong lịch sử dân tộc. Thông qua lời thơ đanh thép, ý thơ hào hùng, bài thơ đã có tác dụng to lớn trong việc động viên, khích lệ tướng sĩ đương thời và được lưu truyền trong nhân dân.

III. Chú giải từ ngữ

1. Nam   Thập   : – Tên 1 hướng, hướng Nam

Chu Nam 周 南, Thiệu Nam 召 南      – Tên 1 phần trong Quốc phong               

của Kinh Thi    

  1. Quốc Vi    : - Nước
  2. Sơn (san) sơn   : - Núi
  3. Thuỷ   : – Tên sông Hoàng Hà 黃 河

- Sông (nói chung)

  1. Đế   Cân   : – Vua

Ghi chú: Thời Tam đại  三 代 ( Hạ , Thương 商, Chu 周), tất cả các vua đều xưng Vương 王, đến đời Tần Thuỷ Hoàng 秦 始 皇 thì vua tự xưng là đế , tiếp đến đời Hán vua cũng xưng đế và phong cho hoàng thân, quốc thích, những người có công lao to lớn đối với triều đình tước Vương .

  1. Thi   :      – Ở, cư trú

- Cai quản, đảm đương

  1. Tiệt Qua   :    – Cắt đứt, chấm dứt
  2. Nhiên Hoả   : - Đốt lửa, nhóm lửa

- Phụ từ, đi chung với 1 số từ: Thiên nhiên, tự nhiên, hốt nhiên

截 然 Tiệt nhiên      :   Rõ ràng

  1. Định Miên :      – Dẹp cho yên ổn, sắp đặt tốt
  2. Phận Đao : – Số mệnh, khu vực

Phân                 - Chia ra

Phần                 - 1 góc của cơ thể

  1. Tại Thổ :    – Ở, còn
  2. Thư ( Viết)   : - Sách, viết (động từ)
  3. 13. 如 Như ( Nữ)    : - Từ dùng để so sánh
  4. Hà ( Nhân)   : – Sao, gì, đâu, nào?

如 何 Như hà     :   Tại sao, vì sao?

  1. Nghịch ( Sước)   : - Ngược, trái ngược, rối loạn
  2. Lỗ ( Hô)    :           - Tù binh, giặc, tiếng mắng chửi
  3. Lai ( Nhân)   :        – Lại, về, đến, tới
  4. Xâm ( Nhân)   :     - Đánh không chính nghĩa

                                                 – Xâm lấn, cướp đoạt

  1. Phạm (Khuyển)   : – Mắc phải, chạm phải
  2. Nhữ (Thuỷ)   :       – Anh, mày…
  3. Đẳng ( Trúc)   :      – Thứ bậc, ngang bằng

- Đứng sau đại từ nhân xưng để chỉ số nhiều

汝 等 Nhữ đẳng    :   Các ngươi, chúng bay,…

  1. Hành  ( Hành)   : - Đi, làm, sẽ,…

Hạnh         - Nết người

Hàng         - Dãy, lớp

Hãng         - Nhà buôn lớn

Hạng         - Thứ bậc

  1. Thủ   ( Hựu)   : - Lấy, chuốc lấy, rước lấy
  2. Bại   ( Phốc)   : - Thất bại, thua trận, đổ nát
  3. Hư   ( Hô)    : - Trống rỗng, không có gì

敗 虛 Bại hư      :   Chỉ sự thất bại hoàn toàn

  1. Ngữ pháp
  2. Cách dùng chữ ?

- Hình dung từ nghi vấn (có danh từ kèm theo sau): 何日? (Hà nhật): ngày nào,

何 事 ? (Hà sự): Việc gì?, 何故 ? (Hà cố): Cớ gì?

- Đại từ nghi vấn: 何 在? (Hà tại): ở đâu? 何 為 ? (Hà vi): làm gì?

- Phó từ nghi vấn: 如 何 ? (Như hà): Cớ sao, vì sao?   68

  1. Phân biệt Ngữ (nhóm từ) và cú (câu)

- Ngữ là một nhóm từ có ý nghĩa nhưng chưa đầy đủ thành câu, ví dụ:

+ 貉 將 之 女 Lạc tướng chi nữ: Con quan Lạc tướng.

+ 交 趾 太 守 Giao Chỉ thái thú: Thái thú đất Giao Chỉ.

Qua hai ví dụ trên ta thấy, trong nhóm từ các từ liên hệ phụ thuộc với nhau,

giữa từ phụ đứng trước và từ chính đứng sau có thể có giới từ Chi 之.

- Cú là tập hợp của từ và ngũ tạo thành câu có ý nghĩa đầy đủ, ví dụ:

+ 徵 側 為 貉 將 之 女 Trưng Trắc vi Lạc tướng chi nữ: Trưng Trắc là con gái

quan Lạc tướng.

交 趾 太 守 殺 徵 側 之 夫 Giao Chỉ thái thú sát Trưng Trắc chi phu: Thái

thú đất Giao Chỉ giết chồng bà Trưng Trắc.

Động từ Vi và Sát là hạt nhân của hai ví dụ trên, nó có chức năng nối kết

từ ngữ của chúng thành câu có ý nghĩa hoàn chỉnh.

  1. Bài tập thực hành

- Viết theo quy tắc bút thuận các chữ sau: 察, 江, 荷, 打, 筐

- Viết ra chữ Hán và dịch nghĩa các câu sau:

+ Lý Thái Tổ kiến song long tại Nhĩ hà tân.

+ Lý Thường Kiệt, Lý triều chi anh hùng dã.

+ Nguyễn Trãi, Thượng Phúc nhân dã.

+ Thăng Long thành tích hiệu Long Biên địa.

Bài 10

告 疾 示 眾

春 去 百 花 落

春 到 百 花 開

事 逐 眼 前 過

老 從 頭 上 來

莫 謂 春 殘 花 落 盡

庭 前 昨 夜 一 枝 梅

                             (滿 覺 禪 師)

CÁO TẬT THỊ CHÚNG

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tòng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Mãn Giác thiền sư)

Dịch nghĩa

CÓ BỆNH BẢO MỌI NGƯỜI

Mùa xuân qua đi trăm hoa rụng hết

Mùa xuân đến trăm hoa đua nở

Việc đời cứ đuổi nhau qua trước mắt

Cái già đã tới ở trên đầu

Chớ bảo mùa xuân tàn thì hoa sẽ rụng hết

Đêm hôm qua sân trước một nhành mai nở.

Minh Hải dịch

  Dịch thơ

CÓ BỆNH BẢO MỌI NGƯỜI

Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa nở

Việc đời đua trước mắt

Trên đầu già đến rồi

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành mai.

Minh Hải dịch

  1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
  2. Về tác giả Mãn Giác Thiền Sư滿 覺 禪 師

Mãn Giác thiền sư 滿 覺 禪 師 (1051-1096) tên thật là Lý Trường 李長, ông là con trai của Trung thư viên ngoại lang 中 書 員 外 郎 Lý Hoài Tố 李懷素, người làng An Cách 安 格. Theo GS Lê Mạnh Thát trong “Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh”, thiền sư họ Nguyễn tên Trường 長, sinh năm 1052 và mất năm 1096.

Thuở nhỏ, ông vào hầu thái tử Càn Đức 乾 德, được thái tử rất trọng vọng. Khi Càn Đức lên ngôi, tức vua Lý Nhân Tông 李 仁 宗, ông được ban pháp hiệu là Hoài Tín trưởng lão 懷 信 長 老, được mời vào trụ trì chùa Giao Nguyên 交 元 trong cung gần điện Cảnh Hưng 景 興. Từ đó, ông mới xưng hiệu là Mãn Giác 滿 覺 và được

thụ phong Nội Đạo Tràng 內 道 場.

Hiện tại vẫn chưa rõ những trước thuật của ông, chỉ còn 1 bài thơ Cáo tật thị chúng được lưu lại trong sách Thiền uyển tập anh 禪 苑 集 英.

  1. Về tác phẩm Thiền uyển tập anh và Cáo tật thị chúng

2.1 Giới thiệu sơ lược về Thiền uyển tập anh 禪 苑 集 英

Thiền uyển tập anh 禪 苑 集 英 (Anh tú vườn thiền) ra đời vào khoảng năm 1337, sách viết theo lối ký truyện, ghi chép các dòng phái Thiền Tông 禪 宗 Việt Nam trong khoảng 7 thế kỷ (từ đầu thế kỷ VI đến thế kỷ XIII). Chưa rõ tác giả. Đây là một tài liệu quý hiếm về lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử phật giáo Việt Nam nói riêng. Từ góc độ văn hiến học, tác phẩm cũng là một di sản văn học quý báu thời kỳ Lý – Trần. Chính Lê Quý Đôn 黎 貴 惇 là người đầu tiên khai thác tác phẩm này và tuyển được từ đây 14 bài thơ của 14 tác giả và đưa vào bộ Toàn Việt thi lục 全 越 詩 錄

Cũng như nhiều thư tịch khác, xung quanh vấn đề văn bản của Thiền uyển tập anh vẫn còn khá nhiều nghi vấn khoa học như tình tiết các tiểu truyện, văn bản các bài kệ, mức độ ảnh hưởng hoặc vay mượn của Trung Hoa,… Tuy vậy, dù ở bất kỳ thời đại nào, tác phẩm cũng có một vị trí khá quan trọng trong dòng lịch sử văn học

Việt Nam.

2.2 Giới thiệu về bài thơ Cáo tật thị chúng 告 疾 示 眾

Theo Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường trong Từ điển văn học Việt Nam – từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX thì: đây là một bài kệ ngắn, gồm 6 câu, vừa ngầm diễn tả quan niệm luân hồi của Phật giáo, vừa như muốn nói đến tính tương đối của chính quan niệm đó. Có thể vì vậy mà giới nghiên cứu phê bình thường xem đây

như 1 cách nhìn lạc quan về cuộc sống vĩnh cửu, thường lạc,…  Theo PGS.TS. Phạm Văn Khoái, bài thơ diễn tả 1 tinh thần lạc quan lớn của con người trước những điều đau khổ: Sinh – Lão – Bệnh – Tử,… nếu nhận thức được

những điều tự nhiên ấy trên tinh thần cái gì đến sẽ đến thì các điều ấy có gì đáng ngại. Mãn Giác thiền sư đã phát hiện ra chân lý giản đơn ấy và muốn truyền chân lý ấy cho mọi người,… Như vậy, tinh thần lạc quan của bài kệ còn được diễn đạt bằng 1 thứ ngôn ngữ đầy tính vận động. Trong 6 câu của bài kệ, 5 câu đã có những động từ

biểu thị hành động, thể hiện sự liên hệ lôgic giữa xuân và hoa; khứ và lạc; đáo và khai; trục và quá; tòng và lai; tàn và lạc,… để biểu thị một lôgic thông thường: Xuân đến trăm hoa nở,… song trong cái lôgic ấy, thiền sư dường như muốn khuyên mọi người rằng vẫn có nhành mai nở ngay khi theo lôgic thông thường: xuân qua trăm

hoa rụng vậy.

III. Chú giải từ ngữ

1. Cáo   ( Khẩu)   :          - Nói cho biết, bảo cho biết

Cáo   ( Ngôn)   : – Dạy bảo của kẻ bề trên

- Lời chỉ dụ của vua, kính cẩn

                                      - Một thể loại văn học

  1. Tật ( Nạch)   : – Đau, ốm, nhanh, vội, gấp
  2. Thị ( Thị)   : - Cho người khác biết, dạy dỗ

Từ đồng âm:

Họ  Chợ, thành phố  Hầu hạ  Phải, đúng

  1. Chúng ( Mục)   : – Số đông, nhiều

眾 口 難 調 Chúng khẩu nan điều: Nhiều người khó điều hoà

眾 星 捧 月 Chúng tinh bổng nguyệt   : Chòm sao nâng trăng

  1. Xuân ( Nhật)   : – Tên 1 mùa trong năm

春 榜 Xuân bảng: Bảng ghi danh  người đỗ trong kỳ thi Hội

春 芳 Xuân phương: Hương thơm của hoa cỏ

   春 風 Xuân phong: Gió mùa xuân

  1. Khứ ( Khư)   : - Đi

Khử                    : - Trừ bỏ, loại bỏ

  1. Bách (Bá) ( Bạch)   : - 100, số nhiều

百 步 穿 楊 Bách bộ xuyên dương: Trăm bước xuyên lá liễu

百 花 齊 放 Bách hoa tề phóng: Trăm hoa đua nở

百 川 歸 海 Bách xuyên quy hải: Trăm sông đổ ra biển

  1. Hoa ( Thảo)   : – Bông hoa

鳥 語 花 香 Điểu ngữ hoa hương: Chim hót, hoa toả hương

花 朝 月 夕 Hoa triêu nguyệt tịch: Hoa sáng trăng đêm

花 好 月 圓 Hoa hảo nguyệt viên: Hoa đẹp trăng tròn

  1. Lạc ( Thảo)   : – Rơi, rớt, rụng
  2. Đáo ( Đao)   : – Đến, tới
  3. Khai  ( Môn)   : – Mở, nở (hoa)
  4. Sự ( Quyết)   : – Việc, thờ phụng
  5. Trục ( Sước)   : – Đuổi, đuổi theo
  6. Nhãn ( Mục)   : – Con mắt

Phụ chú:

Khẩu (miệng)  Nha (răng)  Tị (mũi)     Nhĩ (tai)

Thiệt (lưỡi)  Phát (tóc)     Đầu (cái đầu)

  1. Tiền ( Đao) : - Trước

前 後 不 一 Tiền hậu bất nhất: Trước sau không như một

前 呼 後 擁 Tiền hô hậu ủng: Trước hô sau ứng

  1. Quá ( Sước) : – Qua, đi qua, lỗi lầm

過 門 不 入 Quá môn bất nhập: Qua cửa nhà không vào

過 眼 雲 煙 Quá nhãn vân yên: Khói mây bay qua trước mắt

過 河 折 橋 Quá hà chiết kiều: Qua sông phá cầu

  1. Lão ( Lão) : – Già, cũ

老 馬 識 途 Lão mã thức đồ: Ngựa quen đường cũ

老 蚌 生 珠 Lão bạng sinh châu: Con trai già sinh ngọc

老 羞 成 怒 Lão tu thành nộ: Xấu hổ quá hoá cuồng

  1. 18. 從 Tòng ( Sách) : – Theo, đi theo

Tụng          - Theo hầu xe vua

Tung          – Trục tung, trục Bắc Nam

Thung         – Đi với từ “ dung”, thong thả

  1. Đầu ( Hiệt) : – Cái đầu
  2. Lai (Nhân) : – Đến, tới, về sau, tương lai
  3. Mạc ( Thảo) : - Chớ, đừng, tuyệt không
  4. Vị ( Ngôn) : – Bảo rằng, nói rằng, nói với
  5. Tàn ( Ngạt) : – Hung bạo, dư thừa
  6. Tận ( Mãnh) : - Hết, hết thảy, hết tất cả
  7. Đình (广 Nghiễm) : – Sân trước, chỗ làm việc quan
  8. Tạc ( Nhật) : - Hôm qua
  9. Dạ ( Tịch)   : - Đêm

秉 燭 夜 游 Bỉnh chúc dạ du: Cầm đuốc chơi đêm

夜 長 夢 多 Dạ trường mộng đa: Đêm dài lắm mộng

28. Nhất   ( Nhất)   : - Số một

一 以貫 之 Nhất dĩ quán chi: Lấy 1 làm thông suốt cả

一 帆 風 順 Nhất phàm phong thuận: Thuận buồm xuôi gió

一 路 平 安 Nhất lộ bình an: Thượng lộ bình an

  1. Chi ( Mộc) : – Cành, nhánh; chống giữ
  2. Mai ( Mộc) : - Cây mơ, cây mai; mùa

調 梅 Điều mai ( Thi): Chỉ quan tể tướng

梅 節 Mai tiết: Mùa xuân

梅 妻 鶴 子 Mai thê hạc tử: Vợ Mai con Hạc (ẩn dật)

桂 魄 梅 魂 Quế phách mai hồn: Phách quế hồn mai (giấc ngủ)

  1. 滿 Mãn ( Thuỷ) : – Tràn đầy, đầy đủ, kiêu ngạo
  2. Giác ( Kiến) : – Hiểu biết, giác ngộ, cảm nhận
  3. Thiền (Kỳ) : – Viết tắt của hai chữ Thiền Na

(Dhyana), sự suy ngẫm về đạo lý

  1. Sư ( Cân) : – Kinh sư, thầy, đơn vị quân đội

禪 師 Thiền sư      :   Người xuất gia theo đạo Phật

  1. Ngữ pháp Phân biệt Tự và Từ

- Tự là đơn vị hình thể thanh âm của ngôn ngữ, một tự có thể có nghĩa hoặc

không có nghĩa.

+ Tự có nghĩa: Nhân 人, Sơn ,  Độc ,  Xuân

+ Tự không có nghĩa: Thanh , Tất , Bồ , Bồ , Đình , Xuất , Đào

, Bặc匐,

Muốn có nghĩa, phải kết hợp chúng lại với nhau thành một từ phức:

蜻 蜓 Thanh đình (con chuồn chuồn), 蟋 蟀 Tất suất (con dế), 葡 萄 Bồ đào

(trái nho), 匍 匐 Bồ bặc (bò lổm ngổm),…

- Từ là đơn vị ý nghĩa cơ bản trong ngôn ngữ, một từ có thể gồm 1 tự hoặc

nhiều từ.

+ Từ một tự: Sơn 山, Thuỷ 水, Yên , Hoa , Tuyết , Nguyệt, phong 風,

Thiên 天, Địa 地,

+ Từ nhiều tự: Thân thể 身 體, Tinh thần 精 神, Sự nghiệp 事 業, Tham tàn

, Đồ thư quán 圖 書 館, Thăng Long thành 昇 龍 城.

+ Chú ý: Có khi mỗi tự là một từ, nhưng khi kết hợp với nhau thì chúng lại có

ý nghĩa khác với ý nghĩa của mỗi từ đứng riêng biệt:

Quốc (nước),  Gia (nhà), 國 家 Quốc gia (đất nước)

  1. BÀI TẬP THỰC HÀNH

- Trình bày những hiểu biết của anh chị về tác giả Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.

- Viết ra chữ Hán và phiên âm dịch nghĩa bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt.

- Học thuộc lòng bài Cáo tật thị chúng của Mãn Giác thiền sư.

 
Để lại bình luận

Posted by on 30 Tháng Mười Một, 2014 in Hán Nôm

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.