RSS

Lên đồng Đức Thánh Trần trừ tà sát quỷ

Năm 1920, Hiệp hội Thông linh gia Pháp quốc có cử hai đại diện là ông Camille Flammarion và bà Josette d’Estamines sang khảo sát về phù thủy tại Đông Dương… Tại Việt Nam, hai nhà thông linh Pháp đã tiếp xúc với nhiều nhân vật, trong số đó có một viên tri huyện ở Hải Dương, con nuôi của một vị pháp sư lừng danh.

Nhờ sự hướng dẫn của ông quan trẻ này mà hai nhà thông linh Pháp được chứng kiến nhiều sự việc kì bí, lạ lùng và viết hồi ký phóng sự về giới phù thủy Việt Nam đăng trên tạp chí “La Revue des Deux Mondes”. Trích lục dưới đây là bài tường thuật về việc triệu thỉnh Đức Thánh Trần giáng đàn trừ tà.
Sự chuẩn bị cho nghi lễ
Đoàn quan khách về tới điện thờ, tắm rửa ăn cơm xong thì gần tối. Có một bà lão cùng con trai đến yêu cầu pháp sư bắt tà trị bệnh cho người con dâu bị “ma làm”, đau đã nửa tháng không dứt, lúc tỉnh khi mê. Bà lão đặt một khoản tiền lên đĩa đưa thày “sửa lễ” cúng Thánh, rồi ra về. Viên tri huyện nói với hai nhà thông linh Pháp:

Nghi lễ trừ tà ở Việt Nam.

- Bốn ngày nữa nhị vị sẽ xem nghĩa phụ tôi thỉnh âm binh thần tướng về trừ tà chữa bệnh cho một nữ tín chủ bị “quỷ ám”.
Mấy ngày sau, y hẹn, bà cụ và con trai dẫn tới bằng cáng (võng), một thiếu phụ ốm xanh xao. Vừa đến trước nhà, thiếu phụ nằm trên cáng bỗng thét lên, bắt phu cáng quay trở về. Ánh mắt quắc lên đanh ác, thị giãy nảy, nhất định không vào trong điện. Hai nhà thông linh ngoại quốc chạy ra coi, không hiểu gì cả. Viên tri huyện giải thích đó là do con tà ám thiếu phụ sợ không dám vào điện. Lão pháp sư, tiếp đó, cũng chạy ra, rồi vỗ tay lên đầu đòn cáng, nạt bảo hai phu khiêng cáng vào trong điện…Thiếu phụ biến sắc, dáo dác sợ nằm im thin thít trên cáng, vào đến trong, lão pháp sư cầm tay đỡ thị đứng lên, dẫn đến ngồi bên mẹ và chồng. Bà đầm hỏi viên tri huyện:
- Tôi thấy con tà sợ pháp sư, nên đã hết làm dữ như lúc mới đến.
Viên tri huyện giải thích: “”Con tà đã xuất rồi.””
- Vậy là thiếu phụ hết đau? Và con tà chạy đi đâu? Bà đầm hỏi.
- Nó chưa trả hồn vía, giải bệnh cho thiếu phụ thì trốn đâu thoát? Hiện nó ở ngoài cửa, vì sợ không dám vào, pháp sư phải đánh quyết trục tà khỏi nạn nhân và vỗ tay lên gọng cáng cột nó vào đó. Viên tri huyện giải thích.
Bà đầm hỏi tiếp: Như vậy, pháp sư trông thấy ma quỷ?
- Nghĩa phụ tôi niệm chú thì mắt thấy nơi ma quỷ trốn lánh. – Viên quan tra lời.
- Nếu vậy, ai đọc được chú này đều thấy ma quỷ?
Viên tri huyện lắc đầu:
- Không phải ai cũng biết chú “kiến âm”. Chú này cùng một số bí chú khác chỉ được mật truyền sau khi luyện xong các phép. Sau đó pháp sư, dù cao tay, cũng không dám truyền ẩu cho ai dù là thân nhân, thân hữu, vì nếu không phải là chính tông pháp sư, người thường đọc chú này, chỉ một lần, mắt sẽ bị thong manh và á thanh nói không ra tiếng.
- Mấy hôm trước, lão pháp sư đã làm phép cho chúng tôi thấy âm binh, cô hồn ở chợ, vậy cũng dùng chú này? Bà đầm lại thắc mắc.
- Không, nghĩa phụ tôi dùng ấn quyết và thư phù lên mắt, giúp nhị vị trông thấy âm giới trong chốc lát mà thôi.
Bỗng, chuông trống bắt đầu gióng lên, tất cả đã sẵn sàng chờ lão phù thủy vào đàn lễ. Hai tầng ban điện đèn nến sáng choang, khói nhang nghi ngút, giữa sập rộng đặt một ghế tựa sơn son, lão pháp sư ngồi cầm túm nhang im lặng mật khấn… Phía sau, trên chiếu, thiếu phụ bị tà ám bơ phờ, thờ thẫn. Dưới sànm chiếc chiếu của toán ba cung văn “chập cheng” vào khóa cung. Tiếng trống hành sai mỗi lúc thêm dồn dập, lão phù thủy trao túm nhang cho viên hầu đồng, nhấc mảnh khăn nhiễu vắt vai, phủ lên đầu, ngồi im một lát rồi giơ cao hai ngón tay trong khi chiếc khăn trùm rớt xuống. Thấy hiệu tay, viên hầu đồng biết là vía Phạm phò mã tức là Phạm Ngũ Lão giáng đàn, bèn lấy trên mắc chiếc áo nhiễu điều, mặc phủ lên áo thâm pháp sư và chít vành khăn đỏ lên đầu. Viên hầu đồng thứ hai trùm lá cờ lục xanh lên đầu thiếu phụ ngồi phía sau. Tiếng trống hành sai vẫn đổ hồi, thiếu phụ giao đảo mỗi lúc
càng mau… đến khi lá cờ rớt xuống thì mở bừng mắt, láo liên ngó quanh, nhưng vẫn đảo đồng chầm chậm. Flammarion hỏi viên tri huyện về ý nghĩa việc trùm khăn, cờ lên đầu pháp sư và thiếu phụ? Ông huyện đáp:
- Có lần tôi đã hỏi vấn đề này, nghĩa phụ tôi giải thích rằng việc trùm khăn phủ có tác dụng che giấu, không để lộ liễu hiện tượng xuất hồn của con đồng và nhập cốt của vía thần, mặc dù các hiện tượng này người trần không thể thấy bằng mắt. Nói chung, các phép biến hóa thần thông ít khi phơi trần, bộc lộ trước mắt người sống, tỉ như hôm qua, pháp sư đã biến đầu heo thành đầu người và ngược lại. Để tạo ảo giác, pháp sư phải cắt đứt, dù chớp nhoáng, sự trố mắt theo dõi của đối tượng bằng cách đột ngột biểu “nhắm mắt ! ” hoặc trỏ tay lên không trung, biểu “coi kìa ! ” để đánh lạc hướng sự chú ý trong khi làm phép biến hóa.
Nói đến đây, bỗng có tiếng bước nện mạnh trên sập. Ngó lên Flammarion thấy lão phù thủy vừa “lên đai” xong, nghĩa là hai gã hầu đồng đã siết chặt cần cổ pháp sư bằng vải khăn nhiễu, siết chặt đến nỗi máu ứ, mặt sưng phù bầm đỏ dễ sợ.

Hai cây lình lá hình mũi dao dài hơn hai tấc xiên qua mép, dựng đứng hai bên má. Vía Phạm phò mã giáng đàn, cầm thanh kiếm gỗ sơn son, ra hiệu cho gã hầu đồng lấy roi và vồ linh – một thứ trống gỗ tí hon có cán, cầm để khảo tà.

http://baolamdong.vn/dataimages/201202/original/images751937_ImageView.aspx.jpg

Lớn tiếng thét sai âm binh, gã hầu đồng đánh roi đen đét trên chiếu vào hai bên chỗ ngồi thiếu phụ. Con tà không nao núng, vẫn chao đảo như con lật đật. Nó đặt hai tay lên đầu gối, có lúc co lên chống nạnh, mắt láo liên ngạo nghễ… Bà d’Estamines thắc mắc hỏi:
- Sao không đánh roi trúng con tà ám thiếu phụ, lại đánh ra ngoài trên chiếu?
Ông huyện trả lời:
- Đánh vào thân mình thiếu phụ không ích gì, lại để dấu vết thêm buồn lòng thân nhân.
- Nếu vậy là con tà không còn ám hãm nạn nhân?
- Nó vẫn ở trong người thiếu phụ. Âm binh thần tướng đã nắm đầu nó vật sang tả, sang hữu để hầu đồng đánh bằng roi, vồ; do đó, khỏi đánh mình thiếu phụ mà chỉ đánh bên chiếu là đủ.
Thình lình con tà chụp lấy tay gã hầu đồng, giật cặp vồ linh rồi dang tay tự đánh vào vai, lưng, ngực, từng chập… Bà đầm ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao con tà tự đánh nó như vậy?
- Đó là nó tự ra oai để tỏ ra nó không ngán sợ đòn các thần tướng giáng đàn.
Lát sau, bỗng thiếu phụ buông tay liệng cặp vồ lăn lóc trên sập rồi tiếp tục lại chao đảo, hai mắt sắc như dao, thỉnh thoảng nhếch môi cười thách thức…
Con tà này thuộc loại khó trị, chống cự phép Thánh. Trong khi vía Phạm phò mã trừng mắt chế ngự con tà, hai viên hầu đồng đốt thêm nhang, thỉnh chuông, quỳ khấn trước bàn thờ quan Ngũ hổ. Tiếng trống thanh la hành sai dồn dập thêm. Hai chiếc ghế đẩu do gia nhân bưng đến vừa đặt bên ghế phò mã thì cả hai hầu đồng đang quỳ bỗng mặt đỏ phừng, gầm lên một tiếng rồi nhảy tót ngồi chồm hỗm trên hai chiếc đẩu, nhe nanh hầm hang ngó con tà như muốn ăn sống nuốt tươi… Gã hầu đồng thứ ba lấy hai áo nhiễu, vàng và trắng mặc cho hai đồng nghiệp vừa ốp đồng. Nhà thông linh Pháp hỏi. Viên tri huyện giải thích rằng đó là hai Hổ thần Hoàng và Bạch, hai trong năm vị Ngũ Hổ thần, giáng đàn để áp đảo con tà khai khẩu, đã cưỡng lệnh phò mã, không chịu nói.
- Như vậy, phải chăng ngài phò mã kém oai linh hơn hai vị thần?
- Không, đã hai năm nay theo tu với Đức Chử Đồng Tử ngoài Đông Hải, ngài phò mã ít về giáng đàn, ngoại trừ một số điện lớn như điện nghĩa phụ tôi đây. Vì tiến tu nên Ngài nay không hiển lộng thần oai như ngày trước. Trong mười vụ trừ tà giải bệnh, Ngài đã giáng trị đến tám, chín; họa hoằn mới triệu thỉnh Đức Thánh Kiếp Bạc.
Vẫn gầm gừ hầm hang, hai cọp thần cầm cờ lệnh phất lia lịa trên đầu thiếu phụ, trong khi gã hầu đồng ngồi dưới chiếu, đánh roi chí chát, quát nạt: “”Xin các quan đánh đuổi… căng thẳng hai tay nó! Trói nó lại!””. Con tà vẫn ngạo nghễ quắc mắt, không ngán hai thần hổ… tiếp tục chao đảo, hai tay nắm cứng đầu gối. Bỗng nó giật thót lên run rẩy từng cơn như mắc động kinh, khiến khăn tóc thiếu phụ rũ rượi. Hai cánh tay như bị một sức mạnh vô hình kéo giật từ gối xuống chiếu không nhấc lên nổi. Chỉ một thoáng, nó lại ráng co tay lên. Và co lên kéo xuống vùng vẫy hơn khắc đồng hồ… cuối cùng nó phải thẳng tay chống xuống chiếu như bị dính cứng vào mặt sập. Bà d’Estamines muốn hiểu nguyên do các động tác trên, viên tri huyện giải thích:
- Những động tác co kéo, vật vã của thiếu phụ là do con tà cố chống cưỡng áp lực hai vị Hổ thần căng tay trên chiếu, không cho cục cựa. Có làm như vậy, con tà mới chịu khai khẩu…
- Để làm gì?
- Có ba giai đoạn trong tiến trình chế ngự con tà. Thoạt đầu phải áp đảo bắt nó khai sự thật về tung tích hoạt động tác quái của nó, lý do tại sao nó hãm hại nạn nhân? Cũng như trần gian bắt phạm nhân cung khai lý lịch, tình trạng, hành tung v.v… Lắm con tà rắn mặt, khăng khăng không nói thực về danh tánh, quá khứ, nói lẩn quất trên trần v.v… Giai đoạn 2, ép nó phải trả lại hồn phách tinh thần nạn nhân, giải trừ bệnh tật. Giai đoạn 3, bắt làm cam đoan không tái phạm trở lại hại nạn nhân lần nữa.
- Sao không cầm nhốt nó như trên trần bỏ tù một tội nhân? – Bà đầm hỏi.
- Nghĩa phụ tôi có lần cho biết là dưới âm, chỉ có Thập điện Diêm đài xét xử nghị tội các vong hồn, ngoài ra, không ai có quyền làm như vậy, kể cả với các hồn còn vất vưởng lẩn trốn trên trần. Những hồn chết oan kiện kẻ hại mình còn sống trên dương gian thường được Diêm Vương sai quỷ sứ lên bắt xuống làm tội. Nếu kẻ đó chưa tới số, oan hồn được phép lên trần trả oán, nhưng không được làm chết, chỉ có thể làm đau ốm, điên loạn, ngộ nạn điêu đứng mà thôi.
Bỗng, thiếu phụ tru lên vì hai vía thần hổ, từ trên đầu nhào xuống, bàn chân mỗi vị chặn một bên tay thị. Con tà giãy giụa một hồi rồi chống hai tay chịu trận, cúi gằm đầu… Tuy bị chế ngự, thúc thủ, nó từng chặp mắt vẫn quắc lên dáo dác, trong khi hai thần hổ hầm hè ngó nó… Gã hầu đồng thì nện roi chát chúa mỗi lúc thêm mạnh: “”Xin các quan áp đảo kéo lưỡi nó ra! Bắt nó khai khẩu!””. Con tà nhấp nhổm bàn tọa mà không nhúc nhích được nửa thân, hai bàn tay vẫn như đóng đinh vào mặt sập. Bỗng, nó mím chặt hai môi, lắc đầu lia lịa, vùng vẫy như muốn tránh nó không để âm binh thần tướng kéo lưỡi nó… Cuối cùng, chống cưỡng không nổi, nó thét lớn:
- Ta bị chết oan. Diêm đế cho ta lên trần trả oán. Không ai bắt được ta!
Căn điện bỗng trở nên nhộn nhịp vì lời con tà vừa thốt. Viên hầu đồng ra hiệu cho người bưng tới tách trà bốc khói và chậu nước mưa đặt trước thiếu phụ rồi ôn tồn dụ dỗ:
- Hồn oan ức làm sao? Hãy xúc miệng, rửa mặt, rửa tay rồi giãi bày trước cửa. Phò mã giải quyết cho!
Nhưng con tà đâu chịu khai ngay. Sau gần nửa giờ phủ dụ, lúc dọa nạt, nó mới chịu thú thực nó là vợ cả chồng thiếu phụ và đã bị đầu độc chết. Bằng giọng lảnh lót, nó nói:
- Bảy tám năm trước con dâm phụ này dan díu với chồng ta, ả ta bí mật mưu mô sai đứa cháu gái gọi bằng dì ở Hưng Yên, xin vào làm con ở cho ta. Một hôm, đứa cháu này thừa cơ, bỏ thuốc độc kim câu vào trầu, ta chỉ nhai ba miếng trước sau thì bị á khẩu, chết không kịp trối. Lúc tẩm liệm, mẹ ta thấy máu ứa cửa miệng, biết ta chết oan, liền đầu đơn cáo. Nhưng quan sở tại ăn của đút, lại cho đó không phải máu vì ta nghiện trầu nặng, trúng phong cứng lưỡi chết bất ngờ, cốt trầu còn trong họng lúc khâm liệm mới ọc ra. Ai cãi nổi miệng quan có gang có thép? Thế là con dâm phụ trắng án. Sau ma chay ba ngày, gian phu đã mở cửa đón dâm phụ vào hú hí trên giường ta. Trước cảnh gai mắt, hồn ta phải bay lên ngọn cau cuối sân. Rồi hết tuần tứ cửu, chúng công khai làm vợ chồng; ta đã “hóa” bình nhang, ba giờ trưa giữa ban ngày cháy ngùn ngụt cho chúng sợ phép. Hàm oan như vậy, ta được Diêm Vương cho lên trần trả oán; song vận số dâm phụ hồi đó còn vượng, ta chưa thể làm nó ốm đau mắc nạn. Cuối cùng, ta đành đầu thai để rửa hận. Không ngờ, nó có bà tổ cô thiêng phù hộ nên thai không đậu. Nó bị sảy thai. Ngậm hờn, ta làm cho dâm phụ hữu sinh vô dưỡng, đẻ thông ba đứa con không nuôi được. Nay, nó gặp vận kiển Kế Đô, ta bắt hồn vía cho nó thập tử nhất sinh đến ngày tận số.
Trời bắt đầu tối. Trong điện thờ, đèn đuốc sáng choang, tất cả đã sẵn sàng, chỉ còn chờ thiếu phụ tà ám đến là khai đàn. Đang ngồi tiếp quan khách, lão pháp sư bỗng mặt đỏ bừng, lim dim hai mắt rồi đứng vùng lên, lùi lùi xuống thang… bước ra đến cổng thì chỉ gặp mẹ và chồng thiếu phụ hớt hải chạy đến.

Làm như không thấy họ, pháp sư cứ rảo cẳng đi về phía chợ, đến nơi, thấy đòn cáng chình ình bên lộ, hai phi khiên ngồi bó gối ủ rũ. Lão pháp sư tức thì giậm chân đánh quyết, nạt lớn một tiếng, đập mạnh hai tay lần vào đầu cáng, quát hai phu khiêng thiếu phụ đến điện thờ.

Toán quan khách theo pháp sư cùng đến chợ coi, trên đường về, được pháp sư kể cho nghe (qua lời quan huyện thông ngôn) rằng hồi nãy tại điện mặt ông tự nhiên đỏ bừng rồi nhắm mắt, đó là lúc âm binh giải tà về cấp báo ông hay con tà cầu cứu cô hồn các đảng chợ Thị Cầu cản cáng không cho đi.

Đám quỷ hồn nhảy lên đầy võng, bám vít hai đầu đòn, ôm cứng tay chân, kéo cổ phu cáng làm cho cả hai ngột ngạt, xây xẩm không thể cất bước, loạng choạng và phải hạ cáng, ngồi xệp xuống dưới. Thấy khó áp đảo lũ cô hồn, âm binh hành sai giải tà vội bay về điện cấp báo pháp sư trước khi thân nhân thiếu phụ đến. Sau khi pháp sư ra oai đánh đuổi bọn cô hồn các đảng, xúm lại cản đường, phu cáng võng lại tiếp tục tiến bước.

Về đến điện thờ, thiếu phụ được đặt ngồi trên chiếu như lần trước. Trên điện, đèn nến chói lòa, khói nhang nghi ngút. Lão pháp sư cũng đã ngồi trên chiếc ghế tựa sơn son kê trên sập, chiếc khăn nhiễu điều phủ trùm đầu, tay cầm bó nhang, khấn vái thầm trong im lặng… Giữa những tiếng thanh la não bạt… “chập cheng”… và tiếng trống hành sai đổ hồi dồn dập, toán cung văn ba người ngồi dưới sàn nhà cũng đã bắt đầu đàn hát bài chầu văn Đức Thánh Trần:

Công cứu quốc cao dầy đã rõ,

Ơn chúng sinh tế độ còn dài

Đại Vương từ ngự thiên đài

Ngọc Hoàng giáng chỉ cứu người dương gian

Ngôi Vạn Kiếp bốn phương chầu lại,

Đức uy linh bát hải lan ra,

Nam Tào, Bắc Đẩu hai tòa.

Xạ ba thiên tướng, hằng hà thiên binh.

Việc nội ngoại ngũ dinh tuần thú,

Khắp thiên đình, địa phủ, dương gian.

Bên ngai tả hữu hai ban,

Kiếm thần cờ lệnh, ấn vàng trong tay…
Sau khi đưa bó nhang cho viên hầu đồng, và ngồi im lặng một lát, pháp sư đầu đảo lia lịa, quát lên một tiếng rồi bỏ khăn trùm đầu ra. Biết là vía Đức Thánh đã giáng đàn, những người hầu đồng bèn xúm lại phục dịch. Cũng y như lần trước, họ phủ áo nhiễu điều lên mình pháp sư và chít khăn đỏ lên đầu, một người khác cũng phủ lá cờ xanh lên đầu thiếu phụ. Giữa những tiếng trống dồn dập, thiếu phụ lại chao đảo, lá cờ rớt xuống, y vừa đảo đầu vừa ngó dáo dác chung quanh… Một bên sập, có đặt một hỏa lò nấu một chảo dầu đang sôi sục. Đức Thánh Trần giáng đàn có vẻ oai nghi lẫm liệt khác hẳn lần trước, khiến cho con tà đã có vẻ nao núng, khiếp sợ. Cũng như lần trước, Ngài truyền cho thuộc hạ “lên đai” (lấy khăn nhiễu siết cổ) và xiên lình dựng đứng hai bên má, rồi lên tiếng quát hỏi thiếu phụ bị ám:

- Sao mi chưa chịu trả hồn phách lại cho nạn nhân?

Con tà có vẻ nể sợ, nhưng vẫn còn ngoan cố chưa chịu nói. Pháp sư bèn từ từ đứng dậy bước xuống đất, lại gần chảo dầu đang sôi sùng sục. Giữa tiếng trống hành sai dồn dập mỗi lúc càng mau, pháp sư tay bắt quyết, miệng niệm chú, rồi quát lên một tiếng lớn, dùng hai tay bốc đều dầu sôi trong chảo đưa lên húp đầy miệng, phun vào con tà. Thiếu phụ thét lên một tiếng thất thanh, nét mặt lộ vẻ đau đớn khôn tả, rồi vừa run rẩy lập cập, vừa rú lên từng hồi nghe thật ghê rợn! Pháp sư vừa muốn bốc dầu sôi lên húp nữa để phun vào mình thiếu phụ một lần thứ nhì thì con tà lại rú lên nghe rất thảm thiết, rồi chắp tay vái lia lịa và cúi xuống lạy như tế sao! Sau khi đã hiển lộ thần oai, vía Đức Thánh Trần mới dịu giọng phủ dụ con tà:

- Thôi, ân oán giang hồ bấy nhiêu đã đủ! Mi hãy trả hồn phách cho người ta, rồi phải hồi tâm lo tu hành để còn mong được siêu sinh tịnh độ. Mi nghe chưa?

Giọng nói từ bi và phúc hậu của Đức Thánh Trần dường như có một oai lực linh diệu khiến cho con tà xúc động và muốn hồi đầu hướng thiện. Nó đã cúi đầu chịu phép, không còn vênh mặt ngó láo liên như trước nữa, mà hai mắt lấm lét nhìn xuống đất trong tư thế sẵn sàng tuân lệnh. Biết nó đã chịu khuất phục, vía Đức Thánh Trần mới truyền cho người phụ đồng đem đồ vật liệu đến để bắt nó phải làm tờ cam đoan: một lưỡi dao bén, một cái đĩa và một tờ giấy bản, rồi quát nạt con tà hãy xòe hai bàn tay đã úp lên tờ giấy. Vị pháp sư tự rạch lưỡi bằng dao bén, lưỡi đứt lìa để rơi trên đĩa rồi phun máu xuống tờ giấy. Dưới ánh lửa chập chờn của mấy ngọn nến thắp sáng trên điện, đó là một cảnh tượng vô cùng kinh dị và rùng rợn! Một lát sau con tà nhấc tay lên, thì hình hai bàn tay mười ngón nổi bật trên nền giấy lấm tấm máu bầm đã phun. Thiếu phụ giật mình đánh thót một cái, rồi bật ngửa người ra đằng sau: con tà đã xuất. Đó là một cách bắt tà làm tờ cam đoan; khi đã chịu phép lấy “dấu tay” kiểu này, con tà hết dám trở lại hại nạn nhân lần nữa. Kế đó, vía Đức Thánh Trần trở lại sập ngồi trên ghế son như cũ, rồi đưa tay ra hiệu thăng đồng. Hai viên hầu đồng lại vội vã “thôi đai”, mở gút khăn siết cổ, rút xiên lình xong, thì lão pháp sư cũng vừa ngả mình trên ghế: Đức Thánh đã thăng! Cái lưỡi trong miệng cắt đứt lìa, còn dính máu me và cựa quậy trên mặt đĩa… Mười lăm phút sau, lão pháp sư cầm lên đút vào miệng ráp nối dính liền như cũ, không cần khâu may băng bó. Cái lưỡi, với bắp thịt chi chít huyết quản, bị cắt làm đôi mà lại không ra nhiều máu. Khi cuộc đàn lễ đã xong, pháp sư thè lưỡi cho quan khách xem, thì thấy nó ngo ngoe, co giãn như thường, chỗ bị cắt đứt hồi nãy chỉ còn lại một vết ngang như một sợi chỉ màu nâu sậm. Còn việc bốc dầu sôi trong chảo và đưa lên miệng húp, chừng xem lại thì miệng lưỡi và hai bàn tay pháp sư vẫn như thường, không có dấu vết gì chỉ rằng da thịt bị rộp hay bị phỏng. Thật là những hiện tượng kỳ lạ, mà hai nhà thông linh Pháp cho rằng độc đáo trong giới phù thủy Việt Nam, không từng có ở một xứ nào trên thế giới!

(Kết truyện)

 
Để lại phản hồi

Posted by on 24 Tháng Ba, 2014 in Khác

 

邓石如–篆书《朱熹四斋铭》

邓石如–篆书《朱熹四斋铭》

 

篆书欣赏(四)

 篆书欣赏(四)

 篆书欣赏(四)

 篆书欣赏(四)

篆书朱熹四斋铭

 
Để lại phản hồi

Posted by on 3 Tháng Mười Hai, 2013 in Khác

 

Hanoi & Vicinity: A Plethora of Pagodas

Hanoi & Vicinity:
A Plethora of Pagodas

 

My first visit to Hanoi was by bicycle, as part of an REI tour in 1999 that started in Nanning and crossed the border at Mong Cai. Our entry into the city, over the fabled Long Bien Bridge, was one of the highlights of the trip. When I lived in Saigon as a boy, of course, a trip to Hanoi was almost unimaginable.

The most memorable parts of that first visit were the stops at the Tran Quoc pagoda and the “Temple of Literature.” I found these sites both fascinating but also quite mysterious, perhaps because our guide (a Catholic) was at a loss to explain what we were seeing. It was not until 2005 that I really made a concerted effort to study the underlying historical strata of this ancient city. Ironically, my guide was again a Catholic, but he was quite intellectual and well-versed in the iconography and architecture of the older Buddhist pagodas.

We started out at the Lang Pagoda, in one of the outlying districts of Hanoi known for its silk production. When we wandered beyond the main sanctuary and back into courtyard with the nun’s living quarters, we were discovered by the abbess and invited to tea. As is typical in Vietnam, interest was expressed in my single status, especially given my advanced years. (The Vietnamese automatically add about 20 years for a beard.) A woman who sat down with us started chuckling and said that by now I should have “muoi bo” (10 girlfriends). As it turned out, she was not part of the community, but helped out with the cleaning.

Given the condition of the abbess’ teeth, it appeared to me that she was a devotee of the areca nut. Chewing areca nuts wrapped in betel leaves is supposed to develop strong teeth, though I have found little empirical evidence to confirm this. The areca nut is a mild narcotic, however, and that may help explain its popularity.

 

TWO PAGODAS OF ANCIENT KINH BAC (EAST OF HANOI)

One of the most ancient pagodas is Phat Tich, to the northeast of Hanoi. Its history dates back to at least the Ly Dynasty (11th-12th century). At one time, it was said to have a pagoda tower tall enough to be seen from the capital city.It most prominent treasure is a large stone carving of the Buddha. Aside from dragon balustrades and statues of vigilant animal guardians, I haven’t seen many older stone statues, so an 8-foot high Buddha is of particular interest. Copies of the statue are on exhibit at the Museum of Fine Arts and the museums of national history in Ha Noi and Saigon, where they are dated to 1057. However, it may actually date to the regime of “Ly Bon” in the 6th Century, when Chinese control briefly lapsed. (An opinion notes by Keith Weller Taylor in The Birth of Vietnam.)

The famous statue of the Buddha and some peculiar beasts at Phat Tich Pagoda.

Phat Tich also has some very interesting animal sculptures in front, including a very large mythical creaturethat might be a version of the “nghe” dog.

 

Perhaps my favorite pagoda is the one known as But-thap or Van Phuc, to the east of Hanoi. It is home to a another famous statue, in this case of Quan Am (Avalatikosvera), at one time a male bodhisattva figure, transformed through Chinese tradition into a goddess of compassion. In this depiction, she has many eyes to see and many arms to help those in need. The statue is carved from jackwood and buffed with gold paper to give it a bronze appearance. As with the statue from Phat Tich, copies are on exhibit in the history museums. But-thap also has a magnificent tower with stone carvings depicting many religious fables and other tales.

The goddess Avalokitesvara (known throughout Vietnam as Quan Am)
and the stone tower next to But-thap Pagoda.

A CAVE PAGODA IN HA TAY

Ha Tay province lies to the west and southwest of Hanoi, and recently was incorporated into the city. Nonetheless, most of the province lies well outside the city suburbs and it remains quite separate

The Tram Pagoda is one of the more interesting examples of a cave-pagoda. There are numerous sites located in mountain niches throughout the north and south, but this has some of the oldest extant statues.

A small side temple is dedicated to the worship of the Holy Mothers. Although the Holy Mothers cult was banned in the 1980s because of suspected fraud connected with their “spirit possession” ceremonies, the cult is still very popular and altars to the Holy Mothers are frequently found at Buddhist temples. A statue in front of the cave commemorates this as the site of a Viet Minh radio station in 1946. (Oddly enough, you can also see a French fort perched on a karst outcropping well within rifle range.)

The Tram Pagoda’s cave altar.

*Actually, these are only a few of the pagodas that we visited in our whirlwind tour. We also visited Kim Lien, Chua Dau, Chua Mia, Tram Gian, the Tay Phuong and Thay pagodas, Kien So (Phu Dong), and so forth. Tung noted that many of these were rarely visited by tourists, though most are mentioned in the (at present) definitive survey of historic pagodas, Chua Vietnam/Buddhist Temples in Vietnam. Tung had deduced my intentions from my initial itinerary and added a few obscure but important pagodas that he thought I should see.

 

THE TEMPLE OF LITERATURE (VAN MIEU)

In studying Hanoi, one should not neglect the Confucian heritage of the capital. I have made many return visits to Van Mieu, the “Temple of Literature,” and found some recent developments. An enormous two-story building has been constructed to fill out the fifth section of the complex, where the “national college” once stood. It bears no resemblance to the historical arrangement of dormitories and study halls, but it does have an interesting collection of artifacts, such as scholar’s and mandarin’s robes, doctor’s degrees, and a portable bookcase that scholars would have carried along with them to the mandarin examinations.

The tradition of a Confucian temple to literature is derived from the Chinese imperial tradition. Confucius himself was venerated as the central figure in the temple of literature, though he was usually represented by an inscribed tablet. The main temple in the Van Mieu complex has several ghastly statues to Confucius and his primary disciples, which were likely cast long after the temple was used for royal ceremonies.

The stele-yard of the temple is the richest in historical detail, where the names of the students who passed the imperial examinations are carved on stone tablets on the backs of sculpted turtles. This tradition, begun in the early Ming period in China, was adopted by the fourth emperor of the Le Dynasty, in the year 1484. Due to various revolts and succession crises, there were many gaps in the triennial examinations, but for the next three centuries, the rulers in this capital tried to maintain the tradition of erecting stele to the successful “laureates.” Carving stele was an enormous public project, and so we find that many were carved en masse at one time, covering as many as two dozen earlier examinations.

Note from 2010: in the last year, I’ve begun researching an interesting question as to the stele from the Mac Dynasty period. The Mac were the ruling family in Hanoi from 1527-1592, and were proud followers of the Confucian tradition. However, only one stele remains from the Mac period–the other stelae, from the 1530s to the 1580s, were carved for examinations held by the Le emperors in exile in Thanh Hoa province. The Mac were of course holding examinations in the capital at that time–I suspect that those stele were destroyed when the supporters of the Le emperors captured Hanoi (Thang Long) in 1592. (There is at least one account claiming that the Mac emperors never got around to carving stelae for the later examinations, but I think this may be a fictional explanation.)

 

1) the “Khue Constellation” pavilion built in 1805 for readings, also serving as a gateway to the stele courtyard, 2) a tortoise bearing one of the 82 stelae listing the scholars who passed the triennial examinations, 3) the new museum building in the Quoc Tu Giam compound, and 4) the portable bookcase used by scholars attending the examinations.

Across the street behind the Van Mieu enclosure is the Museum of Fine Arts. Many of its exhibits were already familiar to me, (for instance, they have a copy of the Phat Tich Buddha), but its collection of wood carvings from the “dinh” community houses is worth the visit. I also found the kinnari attributed to the Phat Tich pagoda (below, right) interesting to compare to the Cham style. I wonder if similar styles exist in China, or if this is an important indication of Cham influence on Vietnamese art.

 

 
Để lại phản hồi

Posted by on 27 Tháng Chín, 2013 in Khác

 

Holy Mothers

Few things have so inflamed the imagination of contemporary anthrolopologists as th

Holy Mothers

e cult of the “Holy Mothers” in Vietnam, as the reading list at the bottom of this page suggests.

Once banned by the government as a superstitious practice, the “len dong” (trance performances by a medium) are now officially recognized as a unique expression of Vietnamese culture. “Fortunetelling” is still outlawed, but it is actually very common for people to seek occult advice on auspicious days, investments, etc.

Anthropologists have written extensively about the psychological aspects of the Holy Mothers tradition, particularly in form of the trance performances (len dong) in which a succession of spirits enter the body of a medium. These performances seem to serve the same cathartic function that westerners find in psychotherapy. They also seem to provide a sphere where the participants can explore alternate sexual identities. For instance, one writer (Barley Norton) discusses music and mediumship in terms of the public perception of “effeminate men” and “hot-tempered women.”

Ceremony at the temple to Lieu Hanh in Nam Dinh;
assistants cover the medium’s face with their fans
while he sips from a cup

A medium reenacts the adventures of one of the mandarins or princes;
Den Hong Son, city of Vinh, province of Nghe An

 

By 1999, Vietnamese Studies (a journal published by the government publishing house) was able to publish a special issue devoted to “The Cult of the Holy Mothers in Vietnam.” The contributors took a generally sympathetic view of the “Mother’s religion,” pointing out that it gave due respect to the feminine principle in nature and in society. (The argument not-so-subtly contrasts this egalitarian “indigenous” attitude with patriarchal religious practices, said to have been imported from China and adopted by the “feudal elites.”)

 

MOtHER GODDESSES OF THE FOUR PALACES

At first, three goddesses were worshipped in the cult of the “Three Palaces” (Tam Phu): the Mother/Goddess of Heaven, the Mother of Waters, and the Mother of Earth. The concept of the “Tam Phu” is still very much alive–it is common to see altars identified as the “Three Seats / Holy Mothers” (Tam Toa Thanh Mau).

Later the “Mother of Forests and Mountains” was added, creating the “Four Palaces” (Tu Phu). This last figure may have been adopted from an independent traditions–at many temples, I have seen a separate altar dedicated to the similarly-styled “Lady of the Mountain Village” (Chua Son Trang).

A standard “Hang Trong” depiction of the “Four Palaces” (Tu Phu).
This Taoist grouping is quite different than that found in temples.
According to Phan Ngoc Khue, the topmost figure is Quan Am,
the Taoist/Buddhist Goddess of Mercy. The four Holy Mothers are
shown beneath the four “Father-Kings,” figures rarely seen in temples,
where the top or rear row is always occupied by the goddesses.

PRINCESS LIEU HANH

Lieu Hanh is the best-known of the goddesses, and is regarded as the Mother of Heaven, a position superior to her three companion goddesses.

Stories of the goddess Lieu Hanh, daughter of the Jade Emperor, can be traced back to the 15th or 16th century in the north of Vietnam. She is something of a temptress with a literary following, appearing to the scholar/envoy Phung Khac Khoan on the banks of the West Lake (Tay Ho) in the capital city (modern-day Hanoi).

She is celebrated as a local goddess at the Van Cat temple in Thanh Hoa province, and the Phu Cat (Phu Giay) temple in Nam Dinh. As Olga Dror notes, these two sites are in an area that was contested between the Mac rulers in Hanoi and the Nguyen and Trinh lords in Thanh Hoa.

Some of the stories of Lieu Hanh place her along the Hoanh Son mountain, another border zone. Traditionally the Hoanh Son mountains marked the boundary between the Dai Viet and the Hindic culture of the Cham; by the 17th century it had become one of the dividing lines between the Trinh lords who ruled the north and the Nguyen lords who had created a kingdom-in-exile in central Vietnam. (Their capital was Phu Xuan–modern day Hue).

 

PANTHEON OF PRINCES, MANDARINS, & PRINCESSES

Like folk forms of Taoism, the cult of the Holy Mothers has a dazzling array of spirits, arranged in elaborate hierarchies.

According to Ngo Duc Thinh, the “Five Great Mandarins” (not to be confused with the Five Tiger-Mandarins) are “presented as deities with noble, knightly or humane characters; they commit good deeds but they are also redoubtable…they carry arms and wear warriors’ costumes, the colors of which correspond to those of their palaces….”

The third and fifth mandarins are the ones most often reincarnated in the body of the spirit-medium, and they are sometimes worshipped as the primary figure in their own temples. Both of them are associated with region of Ninh Giang (Hung Yen province); the Third Mandarin is considered to .

There are many incarnations of the Holy Mothers, known as “Holy Ladies” (Thanh Ba or Chau Ba,” but onlythe first six and the smallest are likely visitors to a medium. The smallest and last of the ladies, “Chau Be,” is worshipped in the district of Bac Le in the northern border province of Lang Son.

One of the Holy Ladies stands in front, with an ascending row of handmaidens;
the Mother of Mountains and Forests appears to the right.

Despite their relatively low place in the hierarchy, the Ten Princes are popular and are frequently incarnated in mediums. The Seventh Prince (Hoang Bay) is said to guard the northwestern highlands of Lao Cai-Yen Bai and the Tenth Prince (Hoang Muoi) is found in Nghe An province. (In my travels, I have seen altars to Hoang Muoi at several temples in Vinh and along the coast of Nghe An.)’

There are 12 palace “handmaidens” and 10-12 “pages” or “boy-attendants.” As with the “Holy Ladies,” one of the best known of the handmaidens and the pages are the smallest, “Co Be”and “Chau Be” (the twelfth).

The “littlest” handmaiden and page;
Den Con, Nghe An province.

 

 

MALE ACCOMPANISTS: THE JADE EMPEROR & TRAN HUNG DAO

Though goddesses are foremost in the cult of the Holy Mothers, they have their male counterparts. Given that Lieu Hanh is said to be the daughter of the Jade Emperor (Ngoc Hoang), it’s not surprising to find him at a temple. But statue of the Taoist “Emperor of Heaven” generally does not appear above the Holy Mothers–he is usually found in front of them or as part of a smaller altar off to the side.

Tran Hung Dao, the warrior-prince who defeated the armies of Kublai Khan, is often also found in a supporting role in the Holy Mothers cult. Renowned as a healer in his homeland of Kiep Bac (east of Hanoi), he is often invoked in trance-practice to drive out evil spirits troubling a supplicant. Like the Chinese god Quan Cong, Tran Hung Dao also seems to enjoy a role as temple-guardian–his precise role may vary from one community to the next.

In their role as “interested parties,” Ngoc Hoang and Tran Hung Dao seem to lend support and legitimacy to the Holy Mothers, but they do this without subordinating the mothers to their authority.

Tran Hung Dao is usually portrayed as a prominent figure on a side altar
in the main chamber, or in an adjacent chamber, surrounded
by his famous supporters, Pham Ngu Lao, Yet Kieu, and Da Tuong.

 

ICONOGRAPHY: HATS, SNAKES & TIGERS

One of the clearest signs of the presence of the Holy Mothers is the hats that are suspended in front of the altar. These can be three, four, or five in numbers.

Green (Mountains and Forests)
Yellow (Earth)
Red (Heaven)
White (not shown above, Water)

Another of the distinguishing attributes of Holy Mother temples is the snakes curled through the rafters. Two particular snakes are recognized; one of the forest and the other of the waters.

Four hats and a snake; Den Mo, Lang Son Province

Snakes in the rafters of the temple to the Tenth Prince
(Dien Hoang Muoi) in the city of Vinh, Nghe An Province.

 

According to Ngo Duc Thinh, the Five “Tiger-Mandarins” are different from the Five Mandarins (discussed earlier). Figures of the the Five Tigers are usually placed in an open compartment beneath the main altar. According to Phan Ngoc Khue, the tiger-figures are associated with “mountains of the five directions,” with the the most important being the one in the center.

Five Tigers under a Holy Mother’s altar in a hallway
adjacent to the central chamber of Chua Dau, a Buddhist
pagoda in Ha Tay province.

A solitary tiger under an altar in
Chua Tien Son, a Buddhist grotto-pagoda
in the northern border-province of Lang Son.

 

GODDESSES OF THE SOUTH

The cults of the three and four “Palaces” are typically found in the north, but similar goddess cults are very popular along the central coast and in the southern region. In the center and south, though, they seem to have enjoyed a great deal more imperial recognition.

The difference between north and south may reflect the gradual Confucianization of the north, at the expense of local goddess-figures such as the four goddesses of clouds, lighting, thunder, and rain (Tu Phap). In contrast, the Vietnamese emperors sought to incorporate goddesses in the sourthern regions as they expanded their administration over the lands formerly ruled by the Cham and the Khmer.

In this light, we find that the Cham goddess Po Nagar received imperial recognition as early as the Ly Dynasty, under her Vietnamized name of Thien Y A Na. Thien Y A Na was later adopted in the rites of the Nguyen lords when they established themselves in the region of Quang Tri and Phu Xuan (modern-day Hue) in the 17th Century.

Another set of goddess figures in the center and south are the Ba Ngu Hanh, goddesses based on the Chinese tradition of the “Five Elements.” Thus, I have seen many statues in the south representing the goddesses of Wood, Fire, Earth, Metal, and Water. They have not been studied in great detail, but I suspect that they reflect the influence of the “Minh Huong,” the refugees from the fall of the Ming Dynasty in China.

In addition to the Cham and Minh Huong strains, we also find goddesses who seem to be derived from Khmer figures. In Goddess on the Rise, Philip Taylor examines the possible Cham and Khmer origins of the “Lady of the Realm” (Ba Chua Xu) and the “Black Lady” of the mountain that bears her name (Nui Ba Den) in Tay Ninh province.

The Goddesses of the Five Elements (Ba Ngu Hanh)
represented in human form, temple of Ninh Giang, north of Nha Trang,

 
Để lại phản hồi

Posted by on 27 Tháng Chín, 2013 in Khác

 

Sự tích thánh Mẫu

SỰ TÍCH THÁNH MẪU

Tác giả Tạ Quốc Tuấn

Sự tích Thánh mẫu Liễu-hạnh (1556-1577) được kể trong nhiều dã sử và rất phổ biến ở Bắc-Việt và bắc Trung-Việt. Thư tịch gọi Ngài là Liễu-hạnh công chúa 柳杏公主, Liễu-hạnh thánh mẫu 柳杏聖母, Liễu-hạnh nguyên quân 柳杏元君, đệ nhị chúa Tiên 第二仙主, chúa Tiên 仙主, hay Sùng-sơn thánh mẫu 崇山聖母.

Thánh mẫu nguyên là con gái thứ hai của Ngọc-hoàng thượng đế 玉皇上帝. Trong một bữa tiệc ở vườn đào trên tiên cung, vì phạm phải lỗi đánh vỡ chén ngọc (ngọc trản 玉盞), có tài liệu chép là đánh vỡ bầu ngọc (ngọc hồ 玉壺), đựng một thứ rượu trường sinh của các vị thần tiên, Ngài bị giáng xuống trần. Ngài giáng sinh vào nhà một người họ Lê 黎, người đời thường gọi là Lê thái công 黎太公, ở thôn Vân-cát, xã An-thái, huyện Vụ-bản, tỉnh Nam-định, có vợ họ Trần 陳氏(1).

Tổ tiên thái công ba đời tích đức, đến đời thái công cũng hay làm việc thiện. Tuy nhiên, ông bà số hiếm hoi, ngoài 40 tuổi mới sinh được một người con trai. Cách năm sau thái bà có mang nhưng đã quá tháng mà chẳng những vẫn chưa sinh lại còn phải bệnh và chỉ thích ăn những đồ hương hoa. Người nhà nghi bà bị ma làm nên mời thầy pháp cúng cấp yểm trừ, nhưng bệnh lại nặng thêm. Cả nhà sợ lắm.

Đêm rằm tháng tám năm thứ nhất niên hiệu Thiên-hựu 天祐 (1556-1557) đời vua Lê Anh-tông 黎英宗 (1556-1573), trong lúc cả nhà đang thưởng trăng thì bỗng có một người ăn mặc rách rưới, nói là có pháp thuật nên xin vào chữa bệnh cho thái bà. Tuy người nhà không tin, nhưng thái công vẫn ân cần mời vào. Người này vào đến sân, rút trong tay áo ra một cái búa ngọc, lên đàn mà thầy pháp trước đây lập để trừ tà cho thái bà, niệm thần chú. Trong lúc ấy thái công và người nhà đều đứng ở dưới đàn nhìn xem. Người kia đang niệm chú bỗng thét lên một tiếng, rồi quăng cây búa ngọc xuống chỗ thái công đang đứng. Thái công liền ngã nhào xuống đất, mê man bất tỉnh. Người nhà biết đó là ảnh hưởng của pháp thuật nên chỉ biết cùng nhau khấn vái thôi.

Một lúc sau thái công tỉnh dạy cho biết trong lúc ông đang mơ mơ màng màng thì có hai người lực sĩ đến đưa đi. Đằng trước bóng sáng lờ mờ, qua mấy chặng đường đi khuất khúc, ông đến một nơi nhà vàng cửa ngọc. Tại đây lực sĩ thay áo cho ông rồi đưa đi qua chín từng cửa, đến chốn cung đường thì dừng lại ở dưới thềm. Không lâu, bỗng mây vàng bao phủ, trông lên thấy có vị vương mẫu áo mũ đường hoàng, hai bên văn võ cầm hốt đứng chầu, nghi vệ rất thịnh. Hai bên sân lại có hàng trăm tiên nữ, áo quần tha thướt, múa hát. Rồi có cô dâng đào, có cô chuốc rượu, chúc thọ vương mẫu.

Chợt có một người con gái mặc áo đỏ, bưng chén ngọc dâng rượu thọ, lỡ tay rơi chén, vỡ tan. Tức thì tả ban có một tiên ông mở ngay sổ vàng ra biên vài chữ, đệ trình vương mẫu. Vương mẫu quở trách cô gái áo đỏ. Sau đó thấy hai sứ giả và vài chục thị nữ xúm lại dắt nàng mặc áo đỏ từ cửa nam đi ra. Mé trước có người cầm cái biển vàng, trên có hai chữ “sắc giáng” 敕降 (nghĩa là sắc cho giáng xuống trần), giữa có hai chữ “nam man” 南蠻 (nghĩa đen là rợ nam, nhưng ở đây ám chỉ nước Việt), còn các khoản dưới thì mập mờ không rõ.

Thái công hỏi người lực sĩ rằng “Đó là việc gì thế?” thì lực sĩ nói “Đây là bà tiên chúa thứ hai tên là Quỳnh-hoa, nay phạm tội phải đầy xuống trần.”

Nói đoạn, lực sĩ đưa thái công về đến nhà, đẩy mạnh thái công làm cho ông tỉnh dạy. Vừa lúc đó thái bà sinh một người con gái. Khi thái bà có mang thì chỉ thích ăn hương hoa, đến khi sinh Ngài có mùi hương ngào ngạt và hào quang sáng rực đầy nhà. Đây là lần giáng trần thứ nhất.

Mọi người vui mừng. Không ai để ý đến người làm phép trên đàn, đến lúc nhớ lại thì không còn thấy đâu nữa. Ai nấy đều lấy làm lạ. Cả nhà đều đoán cô bé mới sinh chính là tiên nữ áo đỏ giáng thế, nên thái công đặt tên con là Giáng-tiên 降仙.

Giáng-tiên lớn lên diện mạo khác thường, dung nhan tuyệt thế, học hành thông minh, tới tuổi cập kê thì nữ công nữ dung đều mỹ mãn. Thường ở riêng một nhà yên tĩnh, đọc sách làm thơ, văn thơ rất thanh tao lưu loát mà lại tài âm nhạc. Nàng đã soạn nhiều ca từ phổ nhạc. Dưới đây là bốn bài ca từ về bốn mùa làm theo bốn điệu nhạc.(2)

Xuân Từ

(điệu Xuân quang hảo)

Cảnh như vẽ, khéo ai bày?

Hoa đào mỉm miệng liễu giương mày.

Bướm nhởn nhơ bay,

Oanh vàng líu lo trong bụi,

Én đỏ ríu rít trên cây.

Buồng xuân dìu dặt mối tình ngây, đề thơ này!

Hạ Từ

(điệu Cách phố liên)

Trời đất nhiều phần nóng nẫu,

Đầu cành rức giọng ve, bãi cỏ vang tiếng chẫu,

Vò võ cuốc kêu sầu, eo éo oanh hót ngẫu,

Dường bảo nhau: “Chúa xuân về rồi, thôi cũng hảo!”

Cảnh sắc dường kia, ngao ngán cầm lòng khôn đậu.

May đâu thần Chúc-dung gảy một khúc nam huân,

Hương sen thoảng đáo, một trận gió bay, sạch lòng phiền não.

Thu Từ

(điệu Bộ bộ thiềm)

Mặt nước trong veo non tựa ngọc,

Gió vàng hây hẩy khua khóm trúc.

Hoa lau muôn dặm trắng phau phau,

Cây cối vẻ hồng pha vẻ lục.

Cung thiềm sáng quắc, ả Hằng ngủ,

Dạo bước thềm giao tình rạo rạc.

Chi bằng đến thẳng dưới giậu hoa cúc thơm,

Thảnh thơi dạo đàn gảy một khúc.

Đông Từ

(điệu Nhất tiễn mai)

Khí đen mờ mịt tỏa non sông,

Hồng về nam xong! nhạn về nam xong!

Gió bắc căm căm tuyết mịt mùng!

Tựa triện ngồi trông! tựa triện đứng trông!

Sưởi lò mặt vẫn giá như đồng.

Ngồi chẳng yên lòng! nằm chẳng yên lòng!

Dậy xem phong cảnh lúc trời đông.

Hoa quên lạnh lùng! người quên lạnh lùng!

Bốn bài ca từ này điệu thật buồn mà Giáng-tiên thường hay đàn ca. Mỗi khi dạo chơi sau vườn, nghe những bài ca nhạc buồn của con gái thì Thái-công trong bụng cũng buồn rầu. Nhân có ông bạn quen họ Trần 陳 ở cùng một làng (có tài liệu viết là ở thôn Vân-đình), Thái-công mới cho Giáng-tiên làm con nuôi ông và lại còn xây riêng một căn nhà ở trong vườn của Trần-công cho nàng ở.

Cạnh nhà Trần-công có một hưu quan, tuổi đã già mà chưa có con trai, nhân một đêm trăng ra chơi vườn đào bắt gặp một đứa bé trai ở dưới gốc đào nên nuôi làm con nuôi, đặt cho tên là Đào-lang 桃郎. Đào-lang mặt mũi tuấn tú. Trần-công thấy Giáng-tiên tư chất khác phàm và lại nết na, nên có ý muốn kết duyên nàng cho Đào-lang. Năm 18 tuổi, được hai bên cha mẹ ưng thuận, Giáng-tiên đã đẹp duyên cùng Đào-lang. Từ khi về làm dâu, Giáng-tiên một lòng hiếu thuận và năm sau, sinh được một người con trai, cửa nhà thêm vui vẻ.

Tuy nhiên, hai người mới lấy nhau được ba năm thì đột nhiên ngày 3 tháng 3 năm Đinh-sửu, niên hiệu Gia-thái 嘉泰 (1573-1577) thứ 5 đời vua Lê Thế-tông 黎世宗 (1573-1599), tức năm 1577, Giáng-tiên tự nhiên không bệnh mà qua đời, mới 21 tuổi. Mộ nàng táng tại xứ Cây Đa làng An-thái (năm 1805 đổi làm xã Tiên-hương). Tại đây hãy còn đền thờ Ngài, gọi là Đền Phủ Giầy.

Khi Ngài mất, mẫu thân Ngài ngày đêm thương nhớ khóc lóc, đau xót vô cùng. Một hôm đến thư phòng của Ngài, xem lại sách vở và đồ dùng còn để lại thì tự nhiên mê man, khóc lóc, gieo mình xuống đất ngất lặng. Đột nhiên từ phương Tây một cơn gió thổi lại, rồi Ngài hiện lên ôm lấy mẹ, gọi: “Mẹ ơi, tỉnh dậy, con đây, mẹ đừng thương nhớ nữa.”

Phu nhân bàng hoàng mở choàng mắt, nhận rõ quả là con mình, bèn nói: “Con ơi, đi đâu mới về? Con quả là thần tiên bất tử đấy ư?”

Ngài khóc mà rằng: “Con là đệ nhị tiên cung phải đày xuống trần, nay đã hết hạn nên phải lên chầu Thượng đế. Con đây cam tội bất hiếu, tuy cũng muốn lưu lại để giữ thần hôn cho tròn đạo hiếu, nhưng vì số con ở gian thế có ngần ấy thôi, xin mẹ yên lòng đừng có thương tiếc chi nữa. Cha mẹ có âm công, đã vào sổ tiên, mai sau cũng được đoàn tụ, không việc gì phải âu sầu.”

Bấy giờ Lê thái công nghe tin vội đến. Nàng lạy tạ mà nói: “Nay con từ trần kiếp về chốn tiên cung, chỉ vì nghĩ đến công cúc dục cù lao, nên phải hiện thân đến đây để giãi lòng ái mộ, nhưng không được thường ở nhân gian, xin từ tạ hai bên bố mẹ để về nơi thượng giới.”

Đào-lang từ khi uyên bay, trăm phần sầu não, thường ngâm thơ để giải sầu. Nay nghe tin, bèn đến, tay cầm vạt áo kể lể nỗi đoạn sầu khổ: “Tôi may được phối hợp lương duyên cũng mong bách niên giai lão; nào ngờ nửa đường ly biệt, nay lại được kết cái duyên tái sinh, thật là hoan hỉ, xin lưu lại để tự tình một đôi lời cho được thỏa lòng khát khao.”

Ngài đáp: “Tiên nữ Tào-tinh hai bên gặp gỡ tất cũng có thiên duyên tiền định, không bao lâu tất có ngày tương ngộ.”

Nói xong tự nhiên biến mất. Năm sau quả nhiên Đào-lang cũng theo về cực lạc.

Từ ngày Giáng-tiên hiện về, người làng biết chuyện đều gọi nàng là Tiên-chúa.

Vì kỳ trích giáng trước chưa đầy đủ nên Ngọc-hoàng thượng đế cho phép tái giáng làm phúc thần, nhận cúng của dân gian. Đó là lần giáng trần lần thứ hai.

Tiên-chúa từ đó đi mây về gió, chơi xem phong cảnh, biến hiện không thường, khi thì hiện ra là một người đàn bà ngâm thơ dưới trăng, khi thì hóa làm bà lão chống gậy bên đường.

Một hôm Ngài đến hạt Lạng-sơn, thấy chùa Thiên-minh ở trên núi là một danh lam thắng cảnh liền lên xem, rồi ra ngồi nghỉ mát dưới cây tùng, gảy đàn ngâm hát rằng mây cô đơn trôi qua trôi lại, núi non cao vút, chim u buồn bay ra bay vào rừng cây cao đẹp xanh tươi. Hoa nở đầy bờ, hương thơm bồng bềnh trôi dạt; thông reo vi vu qua muôn hang hốc. Trông ra bốn bề khắp chốn trần thế xa vời mênh mông không một bóng người; vỗ đàn cất tiếng ca vang một mình ta tiêu dao. Than ôi, rừng núi mới vui làm sao, chẳng có chi làm nhụt chí cao vời vợi.

孤雲往來兮山岧嶢.

幽鳥出入兮林夭喬.

花開滿岸兮香飄飄,

松鳴萬壑兮聲瀟瀟.

四顧無人兮敻塵囂,

撫彈長叫兮獨逍遙.

吁嗟乎山林之樂兮何減重霄.

Cô vân vãng lai hề sơn thiều nghiêu,

U điểu xuất nhập hề lâm yêu kiều.

Hoa khai mãn ngạn hề hương phiêu phiêu,

Tùng minh vạn hác hề thanh tiêu tiêu.

Tứ cố vô nhân hề quỳnh trần hiêu,

Phủ đàn trường khiếu hề độc tiêu diêu.

Hu ta, hồ sơn lâm chi lạc hề hà giảm trùng tiêu.

(Mây đơn qua lại, núi non vút cao,

Chim buồn vào ra, rừng cây xanh tươi.

Hoa nở đầy bờ, hương trôi ngào ngạt,

Thông reo vạn hang hốc tiếng vi vu.

Khắp bốn bề trần thế người vắng bóng,

Vỗ đàn ca vang, mình ta tiêu dao.

Than ôi, rừng núi vui thay, chẳng làm nhụt chí cao vời.)

Lúc đó Phùng-khắc-Khoan 馮克寬 (tức Trạng Bùng) đi sứ sang Trung-quốc chợt về đến đây, nghe thấy vậy bèn đối đáp với Ngài.

Phùng công nói trước một câu:

三木森庭坐著好兮女子

Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử

(Ba cây gỗ họp trước sân, người đẹp đang ngồi là người con gái).

Tiên-chúa ứng thanh đối:

重山出路走來使者吏人

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

(Chồng núi ra tận đường, người chạy lại là người quan lại đi sứ).

Phùng công lại nói:

山人憑一几莫非仙女臨凡.

Sơn nhân bằng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ lâm phàm.

(Người ở núi dựa một cái ghế, há chả phải là tiên nữ xuống chốn phàm trần).

Ngài liền ứng đáp:

文子帶長巾必是學生侍帳.

Văn tử đái trường cân, tất thị học sinh thị trướng.

(Con nhà văn đội khăn dài, hẳn đấy là kẻ học sinh bên trướng).

Cái hay của các câu đối đáp dẫn trên là mỗi câu có nhiều chữ ghép lại thành một chữ khác cũng được nói trong câu.

Trong câu thứ nhất của Phùng-khắc-Khoan, cụm từ “tam mộc sâm” 三木森 chỉ ba 三 chữ mộc 木 (= cây; gỗ) hợp lại thành chữ sâm 森 (= cây cối rậm rạp; đông đúc) và cụm từ “hảo… nữ tử ” 好… 女子 chỉ chữ nữ 女 (= đàn bà, con gái) hợp với chữ tử 子 (= con) thành chữ hảo 好(= tốt, đẹp, hay).

Câu đáp thứ nhất của Thánh mẫu Liễu-hạnh có cụm từ “trùng sơn xuất ” 重山出 chỉ hai 重 chữ sơn 山 (= núi) chồng lên nhau thành chữ xuất 出 (= ra; đi ra) và cụm từ “sứ … lại nhân” 使…吏人 chỉ chữ lại 吏 (= làm việc quan) hợp với chữ nhân 人 (= người) thành chữ sứ 使 (= người được vua hay chính phủ phái đi làm việc gì).

Trong câu đối thứ hai của họ Phùng, cụm từ “sơn nhân … tiên” 山人… 仙, chỉ chữ sơn 山 hợp với chữ nhân 人 thành chữ tiên 仙 (= tiên; người già mà không chết) và cụm từ “nhất kỷ… phàm” 一几…凡 chỉ chữ nhất 一 (= một) hợp với chữ kỷ 几 (= cái bàn con) thành chữ phàm 凡 (= tầm thường; trần tục).

Câu đáp thứ hai của Liễu-hạnh có cụm từ “văn tử … học” 文子 … 學 chỉ chữ văn 文 (= người có học; lời văn; đẹp) hợp với chữ tử 子 thành chữ học 學 (= học; giác ngộ) và cụm từ “trường cân… trướng” 長巾…帳 chỉ chữ trường 長 (= dài) hợp với chữ cân 巾 (= cái khăn đội đầu) thành chữ trướng 帳 (= cái màn, cái trướng).

Tiên-chúa Liễu-hạnh đối đáp rất chỉnh mà lại ngụ ý phân biệt thâm trầm nên ông Phùng-khắc-Khoan rất bội phục, muốn hỏi lai lịch thì ngoảnh đi ngoảnh lại Ngài đã biến mất, chỉ thấy có một cây gỗ nằm ngang, hình ra bốn chữ “mão” 卯 (= chi thứ 4 trong 12 địa chi), “khẩu” 口 (= miệng), “công” 公 và “chủ ” 主 (= công chúa), và một cây gỗ dựng viết bốn chữ “thủy” 水 (= nước), “mã ” 馬 (= ngựa), “dĩ ” 已 (=đã), “tẩu” 走 (= đi).

Cây gỗ nằm ngang là chữ “mộc” 木 (= cây, gỗ) thêm vào chữ “mão” 卯 thì thành chữ “liễu” 柳 (= cây liễu); vẫn chữ “mộc” thêm vào chữ “khẩu” 口 thì thành chữ “hạnh” 杏 (= cây mận). Như vậy cây gỗ nằm ngang và bốn chữ “mão khẩu công chủ ” có ý chỉ Ngài là Liễu-hạnh công chúa. Mặt khác, hai chữ “thủy” 水 và “mã ” 馬 hợp lại thành chữ “phùng” 馮 (= họ Phùng) và chữ “dĩ ” 已 hợp với chữ “tẩu” 走 thành chữ “khởI” 起 (= dựng, xây dựng).

Phùng-khắc-Khoan đoán ý tứ của các chữ ấy là công chúa Liễu-hạnh có ý nhờ ông khởi công sửa sang ngôi chùa này để thờ Ngài, nên ông đã xuất tiền cho dân làng sửa sang.

Sau Ngài lại xuất hiện ở Hồ Tây và các nơi danh lam thắng cảnh trên miền Bắc và Trung như Sầm-sơn hay Phố Cát.

Khi Ngài xuất hiện ở Hồ Tây thì cũng là lúc Phùng-khắc-Khoan cùng hai bạn văn thơ là họ Lý 李 và họ Ngô 吳 đi chơi lênh đênh trên một chiếc thuyền, cầm kỳ thi tửu. Bỗng họ trông thấy một khóm cây đào xanh tốt um tùm, bèn len thuyền vào bên trong thì thấy có một tòa lầu nguy nga, ngoài cửa bên trên có đề bốn chữ “Tây-hồ phong nguyệt” 西湖風月 (gió trăng hồ Tây) và hai bên có đôi liễn viết lối chữ thảo:

湖中閒日月,

城外小乾坤.

Hồ trung nhàn nhật nguyệt,

Thành ngoại tiểu càn khôn.

(Trong hồ nhật nguyệt nhàn,

Ngoài thành vũ trụ nhỏ.)

Trước lầu có che một bức mành mành, thấp thoáng bên trong bóng một thiếu nữ mặc áo đỏ lịch sự.

Họ Lý cất tiếng hỏi: “Chỗ lâu đài này có phải là cảnh tiên không? Anh em chúng tôi vô tình lỡ bước tới đây, muốn mượn cảnh này làm chỗ Lan-đình thắng hội(3), không biết tiên nữ có dung cho hay không?”

Thiếu nữ bèn đáp: “Chỗ này không phải phàm trần, nếu các ông quả là bậc phong nhã, thì tôi đây cũng không hẹp gì.”

Ba người bèn đậu thuyền bước lên. Bên trong thấy có bàn đá, bèn giở bầu rượu túi thơ ra uống và ngâm vịnh.

Thiếu nữ hỏi rằng: “Các ông tới đây có tài nhả ngọc phun châu, văn chương đủ kinh động quỉ thần. Nay tôi có một đề thơ muốn cùng các ngài xướng họa.”

Liễu-Hạnh: 西湖別占一壺天

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên,

Lý: 縱目乾坤盡豁然

古樹遠莊青寞寞

Túng mục càn khôn tận khoát nhiên.

Cổ thụ viễn trang thanh mịch mịch,

Phùng: 金牛闊水綠涓涓

生涯何處數間屋

Kim ngưu khoát thủy lục quyên quyên.

Sinh nhai hà xứ sổ gian ốc,

Ngô: 活計誰家一隻船

隔竹疏離聞犬吠

Hoạt kế thùy gia nhất chích thuyền.

Cách trúc sơ ly văn khuyển phệ,

Lý: 烹茶破壁透廚煙

輕輕桂棹手中蕩

Phanh trà phá bích thấu trù yên. Khinh khinh quế trạo thủ trung đãng,

Phùng: 短短簑衣身上穿

彷彿洞庭游范蠡

Đoản đoản suy y thân thượng xuyên.

Phảng phất Động đình du Phạm-Lãi,

Ngô: 依稀碧漢泛張騫

千尋浩蕩暗深淺

Y hy bích Hán phiếm Trương-Khiên.

Thiên tầm hạo đãng ám thâm thiển,

Lý: 四顧微茫迭後先

款乃往來紅蓼畔

Tứ cố vi mang điệt hậu tiên.

Khoản nãi vãng lai hồng liệu bạn,

Phùng: 嘔啞出入白蘆邊

沙中獵戲忘機鷺

Ẩu nha xuất nhập bạch lô biên.

Sa trung liệp hí vong cơ lộ,

Ngô: 雲外閒觀率性鳶

幾曲滄歌聞水國

Vân ngoại nhàn quan suất tính diên.

Kỷ khúc thương ca văn thủy quốc,

Lý: 一雙白眼放塵喧

交頭對話倚荷蓋

Nhất song bạch nhãn phóng trần huyên.

Giao đầu đối thoại ỷ hà cái,

Phùng: 伸手相招戲莢錢

笠放蓮間藏寀嫩

Thân thủ tương chiêu hí giáp tiền.

Lạp phóng liên gian tàng thái nộn,

Ngô: 籃沉梢底養魚鮮

或將淡酒花叢酌

Lam trầm sao để dưỡng ngư tiên.

Hoặc tương đạm tửu hoa tùng chước,

Lý: 辰枕長篙樹影眠

醉後相看拋水面

Thần chẩm trường cao thụ ảnh miên.

Túy hậu tương khan phao thủy diện,

Phùng: 浴餘自樂曝風前

安華牧子新朋結

Dục dư tự lạc bộc phong tiền.

An hoa mục tử tân bằng kết,

Ngô: 上苑樵夫舊約堅

抱膝徐吾觀蚌勢

Thượng uyển tiều phu cựu ước kiên.

Bão tất từ ngô quan bạng thế,

Lý: 探領笑彼沒龍淵

網疏每避勢途險

Thám lĩnh tiếu bỉ một long uyên.

Võng sơ mỗi tị thế đồ hiểm,

Phùng: 釣直羞將利餌懸

寒渚夏來猶愛日

Điếu trực tu tương lợi nhĩ huyền.

Hàn chử hạ lai do ái nhật,

Ngô: 長安冬盡未知年

三公肯煙霞換

Trường an đông tận vị tri niên.

Tam công khẳng bả yên hà hoán,

Lý: 半點寧容俗慮牽

渭水任符文伯卜

Bán điểm ninh dung tục lự khiên.

Vị-thủy nhậm phù văn bá bốc,

Phùng: 桃源好訪武陵緣

閒鐘乍覺心為佛

Đào nguyên hảo phỏng Vũ-lăng duyên.

Nhàn chung sạ giác tâm vi Phật,

Liễu-Hạnh kết thúc: 得月應知我是仙

Đắc nguyệt ưng tri ngã thị Tiên.

Phan-kế-Bính đã dịch bài này như sau:

Chúa Liễu xướng: Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời,

Lý: Bát ngát bốn mùa rộng mắt coi.

Cõi ngọc xanh xanh làng phía cạnh,

Phùng: Trâu vàng biêng biếc nước vành khơi.

Che mưa nhà lợp vài gian cỏ,

Ngô: Chéo gió ai bơi một chiếc chài.

Rậu thủng chó đua đàn sủa tiếng,

Lý: Trời hôm bếp thổi khói tuôn hơi.

Mơn mơn tay lái con chèo quế,

Phùng: Xàn xạt mình đeo chiếc áo tơi.

Thuyền Phạm phất phơ chơi bể rộng,

Ngô: Bè Trương thấp thoáng thả sông trời.

Đò đưa bãi lác tai dồn dã,

Lý: Giọng hát bờ lau tiếng thảnh thơi.

Cò xuống đưa qua vùng cát đậu,

Phùng: Diều bay sẻ liệng đám mây chơi.

Khúc ca trong đục ẩm bên nước,

Ngô: Quầng mắt xanh đen sạch bụi đời.

Đầu gối long hà lai láng chuyện,

Lý: Tay soi tiền giáp lả lơi cười.

Chốc sen ngả nón chứa rau búp,

Phùng: Đáy nước dìm phao bắt cá tươi.

Có lúc kề hoa vầy tiệc rượu,

Ngô: Họa khi tựa bóng đứng đầu mui.

Say rồi cởi áo quăng dòng mái,

Lý: Tắm đoạn xoay quần hóng gió phơi.

Trẻ mục Yên-hoa bầy tiệc rượu,

Phùng: Lũ tiều Thượng-uyển hẹn lời dai.

Bắt cò cứ vững ngồi rình bụi,

Ngô: Mò ngọc khen ai khéo lặn ngòi.

Tay lưới thế thần khôn mắc vướng,

Lý: Lưỡi câu danh lợi nhẹ tham mồi.

Hạ rồi bến mát còn yêu nắng,

Phùng: Đông hết thành xuân chửa thấy mai.

Thú cảnh yên hà sang dễ đọ,

Ngô: Sóng lòng trần tục dạ hồ vơi.

Xe săn Vị-thủy tha hồ hỏi,

Lý: Thuyền tới Đào-nguyên mặc sức bơi.

Chuông sớm giục thanh lòng Phật đó,

Chúa Liễu kết thúc một câu: Trăng tròn soi một bóng Tiên thôi.

Sau đó, Tiên-chúa giã cảnh Hồ Tây qua chơi Sóc-hương tỉnh Nghệ-an, Hoành-sơn cùng là Khoa-lãnh, Thủy-khê, bao nhiêu kỳ sơn tú thủy Ngài từng du lịch cả. Lại qua Đèo Ngang Phố Cát tỉnh Thanh-hóa, thấy cỏ cây xanh tốt, Ngài bèn hiển thánh tại đây. Dân thôn kính sợ, bèn lập đền thờ Ngài.

Khoảng triều vua Lê Huyền-tông 黎玄宗 (1662-1671), Ngài thường hiện ra làm cô gái đẹp mở quán bán nước, nhưng nhiều kẻ đến đùa ghẹo Ngài đếu bị chết hại. Triều đình nghe tin, ngỡ là yêu quái, sắc mệnh cho pháp sư và quan quân đến tiễu trừ. Quan quân đến Hoành-sơn, lúc thầy pháp thi thố pháp thuật bỗng ngã lăn xuống đất, mắt trợn trừng trừng. Quân lính bèn dùng tên lửa bắn vào trong cây cối, đốt phá cả đền thờ. Được vài tháng, trong miền bị ôn dịch tai hại, dân thôn bèn lập đàn kỳ đảo. Thốt nhiên có một người nhẩy lên trốc đàn quát bảo:

- Lũ ngươi lập tức phải tâu với triều đình sửa lại đền miếu, hương đảng phụng sự thì ta sẽ tha cho. Không thế lũ ngươi còn bị hại nữa.

Bấy giờ dân thôn mới biết là Tiên-chúa hiển thánh nên nghe lời Ngài cử mấy ông hương lão tới cửa khuyết kêu Vua. Vua bèn mệnh cho bộ Công về tận nơi sửa sang lại miếu đền nguy nga, sắc phong Mã-vàng công chúa. Từ đấy phương dân lại được yên tĩnh như thường. Phàm cầu đảo điều chi đều được linh ứng.

Vào đời vua Lê Hiển-tông 黎顯宗 (1740-1786), quận công Phan-văn-Phái được phái đem quân đi đánh giặc Mán nổi loạn. Khi đến Hoành-sơn, quận công vào đền Tiên-chúa cầu khấn, Ngài cũng âm phù thắng trận, nên Vua gia phong Ngài là Chế-thắng Bảo-hòa điệu Đại vương và đồng thời sai dựng mấy tòa đền thờ ở Sùng-sơn (đền Sòng) và Phố Cát (đền Phủ Giầy).

Cuối thời nhà Lê, một ông Tán quan tuổi ngoài 80 có đức hạnh mộng thấy thiên hạ huyên truyền Thánh Mẫu chỉnh trang lên triều, có hai nghìn ngọc nữ vâng đế mệnh cùng là cờ quạt ngựa xe phân làm hai hàng nghênh đón Ngài lên đường, âm nhạc vang trời. Ông ngẩng lên nhìn thì tỉnh mộng. Bấy giờ là ngày hai mươi hai tháng hai. Ông quan ấy thường kể lại giấc mộng này cho nhiều người nghe. Có người bảo là Ngài hết kỳ trích giáng nên về trời.

Triều Tự-đức 嗣德 (1848-1883) trong nước đa sự, triều đình sai sứ thần đến Sùng-sơn xin cơ bút về quốc sự. Ngài giáng bút như sau:

Hoành-sơn một dải ra vào,

Cuốc kêu vọng đế, cáo gào giả vương.

Cung trăng đã sẵn trời dương,

Giang sơn lại mở một trường Xuân thu.

Tên đâu ba mũi phục thù,

Khen cho Khắc-Dụng bầy trò cho con.

Ngọn cờ phất phới đầu non,

Thạch-thành mèo lại bon bon chạy về.

Dặm trường lai láng máu dê,

Con quay ngả trắng ba que cuộc tàn.

Trời Nam vận mở Viêm bang,

Chân nhân đâu đến những phường thầy tăng.

Đồng dao lại có câu rằng:

Non xanh mà mọc trắng răng mới kỳ.

Bấy giờ quét sạch thử ly,

Ai nhớ lấy thiên ky kẻo lầm.

Đương khi sấm sét ầm ầm,

Ấy là khí số để găm trị bình.

Vũ phu mà bức thư sinh,

Long ô chấp cả mấy anh Thủy-hoàng.

Nực cười cho lũ bàng quan,

Cờ tàn mà lại tính đường đẩy xe.

Thôi thôi mặc lũ thằng hề,

Gió mây ta lại đi về gió mây.

Thánh mẫu Liễu-Hạnh mở rộng đức từ, đã rất nhiều lần ban phúc cho nhân dân, nên tiếng tăm Ngài vang dậy lừng lẫy khắp nơi. Từ trong triều đình tới ngoài dân gian, ai ai cũng tôn kính Ngài, thờ phụng Ngài, tôn xưng Ngài là Thánh mẫu và lập nhiều đền thờ, tô tượng Ngài để thờ, nhất là tại những nơi danh lam thắng cảnh Ngài đã từng đi qua, như là Sùng-sơn, Phố Cát, Đèo Ngang.

Đền chính là đền Phủ Giầy ở xã Vân-cát, nơi Thánh mẫu giáng sinh. Đền được coi là linh thiêng nhất. Hàng năm đền có mở hội từ 1 đến 10 tháng 3 âm lịch, gọi là Hội Phủ Giầy. Dân chúng Bắc-Việt và bắc Trung-Việt, nhất là từ mấy tỉnh Nam-định, Ninh-bình, Thái-bình và Thanh-hóa, tới dự hội rất đông để lễ bái và cầu phúc. Ngoài các cuộc tế lễ linh đình ra, còn có đám rước đồ sộ vào ngày 6 tháng 3 âm lịch từ Phủ Giầy tới xã Phù-chính ở chân núi Gôi với hàng mấy trăm ngàn người tham dự, kéo dài mấy cây số, còn có rất nhiều trò vui như ca hát, kéo chữ, đánh cờ, v.v.

Điểm đáng chú ý là các đền thờ Thánh mẫu Liễu-hạnh được dựng giữa những đồi núi rừng cây bao bọc lấy những hồ nước trong suốt tận đáy và khách thập phương đến hành hương đều múc nước uống sau khi dâng cúng lên các bàn thờ trên bờ hồ. Theo lời nhà khảo cổ Đông phương học Rolf Stein, tại những nơi này

“Có nhiều phong cảnh hình bầu hồ, do Thánh Mẫu làm chủ và đặc trưng bằng nước nguồn bất tuyệt và bằng sự mắn con và mưa nhiều.

“Ngoài ra, tất cả chùa đền thờ Thánh Mẫu đều có gương soi để truyền linh hồn thờ phụng Nữ thần vào thân hình bà đồng bóng nhập. Cái gương kể từ cổ xưa bên Tầu là thuộc tính của nữ giới. Nó cũng liên hệ với cữ trăng, ngày mồng một và ngày rằm mỗi tháng có lễ bái Thánh Mẫu. Nhưng còn liên hệ với giếng, mặt nước tròn phản chiếu mặt trăng, và giếng cũng là một cái bầu, cái hồ.

“Bầu hồ và gương bảo đảm cho sức sinh dục bao phủ các phong cảnh thiên nhiên. Đấy cũng là thuộc tính của các Thánh Mẫu ngự trị ở đấy…” (4).

Nhiều thi nhân đã soạn câu đối, làm thơ để ca tụng Ngài.

Đền thờ Ngài ở Hà-nội mang tên là đền Ngọc-hồ (do tích vì Ngài làm vỡ bầu ngọc mà bị giáng trần, như đã nói ở đầu bài này). Trước đền có một bức hoành đăng mang bốn chữ đại tự 玉壺世界 (ngọc hồ thế giới, tức thế giới bầu ngọc), có ý chỉ đền tượng trưng cho cả một thế giới. Hai bên còn có đôi câu đối sau:

壺中日月依然天竺清光,

玉盞樓臺別占蓬萊世界

日焰月臨玉壺燦爛,

山纏水繞浦葛奇觀.

Hồ trung nhật nguyệt y nhiên Thiên-trúc thanh quang,

Ngọc trản lâu đài biệt chiếm Bồng-lai thế giới.

Nhật diễm nguyệt lâm, ngọc hồ xán lạn,

Sơn triền thủy nhiễu, Phố Cát kỳ quan.

(Nhật nguyệt trong bầu giống trời Phật giáo trong sáng,

Chén ngọc lâu đài riêng chiếm thế giới Bồng-lai.

Trời soi trăng chiếu, bầu ngọc xán lạn,

Núi chồng sông lượn, Phố Cát cảnh lạ.)

Đôi câu đối này có ý nói Thánh mẫu Liễu-hạnh ngự trị thế giới Ngọc-hồ, nơi trời trăng trong sáng như trời Thiên-trúc (ý chỉ trời Phật giáo), cũng là thế giới Ngọc-trản, tràn đầy rượu ngon để cho các thi nhân ngồi trên lầu đài thưởng thức mà ngâm vịnh thiên nhiên vũ trụ vạn vật, thật sướng như sống trong Bồng-lai tiên cảnh.

Tại đền Kiếm-hồ có một đôi câu đối biểu đạt rõ ràng chân bản lai diện mục của Thánh mẫu Liễu-hạnh, một người mẹ hiền từ chẳng phải của riêng loài người mà là của vạn vật muôn loài:

成物如地, 生物如天, 陶鎔物類如大造之難得名, 言歷代袞華昭懿鑠.

出世為僊, 降世為佛, 普度世人為慈母之憫斯鬻子, 萬方芹曝樂尊親.

Thành vật như địa, sinh vật như thiên, đào dung vật loại như đại tạo chi nan đắc danh ngôn, lịch đại cổn hoa chiêu ý thước.

Xuất thế vi Tiên, giáng thế vi Phật, phổ độ thế nhân vi từ mẫu chi mẫn tư chúc tử, vạn phương cần bộc lạc tôn thân.

Tạm dịch là:

Làm nên vật như đất, sinh nên vật như trời, nung đúc các loài như công lớn tạo hóa khó nói được tên, đời đời áo bào hoa sáng ý đẹp.

Xuất thế là Tiên, giáng thế là Phật, độ khắp người đời làm Mẹ hiền thương sót con thơ, muôn phương hương khói vui lòng tôn yêu.

Thánh mẫu Liễu-hạnh được sùng bái chẳng phải chỉ vì Ngài đã ban nhiều phúc cho nhân dân, trợ giúp triều đình bảo vệ non sông, mà còn bởi vì Ngài đại biểu cho nguyên lý mẹ, một thứ nguyên lý êm đềm, dịu dàng, làm môi giới cho những lý tưởng và nguyện vọng của nhân dân Việt-nam, nhất là những phụ nữ bình dân. Ngài tượng trưng cho một năng lực siêu nhiên huyền bí, một nguồn sống bất tuyệt ấp ủ tại những nơi sông núi phong cảnh hữu tình. Năng lực ấy, nguồn sống ấy chẳng những là chỉ nuôi sống nhân dân Việt-nam về thể xác, mà lại còn dưỡng dục họ về tinh thần, tạo cho họ có một đức tin mạnh mẽ rằng bên ngoài thế giới xác thịt vật chất còn có một thế giới khác, một thế giới tự nhiên và siêu nhiên, mà nếu họ biết hòa mình vào thế giới đó thì sẽ vĩnh viễn được hạnh phúc hoan lạc chẳng những là chỉ ở kiếp này mà còn ở cả kiếp sau nữa.

Chú Thích

(1) (a) Thái-công ở đây là tiếng tôn xưng cha của một nhân vật được kính trọng, chứ không phải là tên đệm (Thái) và tên tục (Công) như lời Toan-Ánh nói tên ông là Lê-Thái-Công. Xem sách Hội Hè Đình Đám, Nam Chi Tùng Thư, Sài-gòn, 1969, quyển thượng, tr. 202. (b)

Toan-Ánh lại chép là “thôn An-thái, xã Vân-cát”. sđd, tr. 202.

(2) Vì không kiếm được nguyên tác nên chúng tôi thuật lại theo bản dịch của Phan-kế-Bính trong Nam-hải Dị Nhân Liệt Truyện, Mặc, Sài-gòn, 1968; Sống Mới, Ft. Smith, Arkansas, in lại, không ghi năm in, tr. 155-156, với vài thay đổi về chấm câu và cách trình bày.

(3) Ở tây-nam huyện Thiệu-hưng 紹興 (nay là huyện và thành phố thuộc tỉnh Chiết-giang) có một địa phương gọi là Lan-chử 蘭渚 (còn gọi là Lan-thượng lý 蘭上里), tại đây có một ngôi đình gọi là Lan-đình 蘭亭. Ngày 3 tháng 3 năm thứ 9 niên hiệu Vĩnh-hòa 永和 (345-357) đời Tấn Mục-đế Tư-mã Đam 晉穆帝司馬聃 (345-362), tức năm 353, Vương Hi-chi 王羲之 cùng với 41 ngưòi bạn làm lễ kỳ yên ở đây rồi hợp soạn Lan-đình Tập Tự 蘭亭集序 trứ danh. Từ đó cuộc hội họp của các văn thi hữu để uống rượu ngâm thơ được gọi là Lan-đình thắng hội 蘭亭勝會.

(4) Đoạn trích dẫn do giáo sư Nguyễn-đăng-Thục dịch và in trong sách Tư Tưởng Việt-nam: Tư Tưởng Triết Học Bình Dân, Khai trí, Sài-gòn, 1964, tr. 185. Theo giáo sư, nguyên tác được in trong Tập Kỷ Yếu của Trường Viễn-đông Bác cổ, tập XIII, năm 1942

 
Để lại phản hồi

Posted by on 12 Tháng Bảy, 2013 in Khác

 

Vua cha Bát Hải – Truyền thuyết trong đạo Mẫu

Vua Cha Bát Hải – Truyền Thuyết Trong Tín Ngưỡng Đạo Mẫu  

           Sự tìm tòi hay đúng hơn là sự mong muốn tìm hiểu cội nguồn – chuẩn mực Đạo Mẫu khiến tôi đã không dưới hai lần trong cái rét heo hắt nơi xứ người rộng lớnđứng tần ngần ở bến ga Guangzhou Nan mỗi lần đi công tác để tìm đến nơi thờ Vua Cha Bát Hải mà chỉ nghe nói ở tỉnh Hồ Nam mà không biết chính xác ở địa điểm nào trong tỉnh. Cơ duyên may mắn với tôi trong tiết thanh minh năm nay được sự giúp đỡ từ những người bạn sau này là bạn đạo của tôi và có thông tin từ blogs của bác sỹ  Nguyễn Xuân Quang nên chúng tôi đã có bản đồ xác định phương hướng đường  tìm về nơi chốn tổ Vua Cha Bát Hải ở Hồ Động Đình. Ở tỉnh Thái Bình, Việt nam có đền thờ đó là Đền Đồng Bằng hay còn gọi là Đền Đức Vua được xây dựng từ thời vua Duệ Vương (đời Hùng Vương thứ 18) thờ đức Vua cha Bát Hải Động Đình, người có công lớn trong việc bình giặc Thục giữ yên bờ cõi, đưa con lạc cháu hồng vào thiên niên kỷ thứ nhất. Đến đầu thế kỷ thứ 13 nhà đền đã có 20.500m2, khu nội tự là 500m 2, chia làm 6 phủ, 18 toà, gồm 100 câu đối, có tới 40 gian hành lang.

                                           Đền Đồng Bằng, xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh Thái Bình

          Trước khi nói về Vua Cha thì ngược dòng lịch sử truyền thuyết tổ tiên người Việt: Hồng Bàng.

Thời kỳ Hồng Bàng theo truyền thuyết và dã sử cho rằng bắt đầu từ năm 2879 TCN, là niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Lãnh thổ của quốc gia dưới thời vua Kinh Dương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Hoa ngày nay). Về sau người Việt chỉ thấy có ở miền Bắc Việt Nam ngày nay, có thể một phần do sự lấn áp của các tộc người Hoa Hạ từ phương Bắc.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa), gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam), xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỉ. Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỉ vào năm Nhâm Tuất 2897 TCN, lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, sinh một lần trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.[1]

                                                                    Lạc Long Quân và Âu Cơ trong buổi phân ngả

  Theo thuyết này, người ta cho rằng từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỉ được chia ra thành những nước nhỏ, gọi là Bách Việt, dù điều này không có ghi chép lịch sử xác nhận.

  Đầu thời kỳ đồ đồng, người Việt gồm khoảng 15 nhóm Lạc Việt khác nhau sống trên vùng núi miền Bắc và miền châu thổ sông Hồng và hơn 12 nhómÂu Việt sống ở vùng Đông Bắc. Để tiện việc trao đổi buôn bán, phòng chống lụt lội, chống lại kẻ thù… những bộ lạc Lạc Việt dần được gom lại thành một nước lấy tên Văn Lang và người đứng đầu tự xưng là Hùng Vương.

  Có ít nhất 18 đời Hùng Vương cai trị trong thời đại Hồng Bàng, cho đến năm 258 TCN. Các thông tin về các đời vua Hùng dựa nhiều trên các truyền thuyết.

  Tuy nhiên do tính truyền thuyết chắp nối và thất lạc qua hàng trăm năm bị đô hộ và nghi vấn lịch sử vẫn đang là dấu hỏi của người Việt và đệ tử Đạo Mẫu.

  Như ở trên, đời Hồng Bàng được dạy đầy đủ từ Kinh Dương Vương cho tới 18 vua Hùng như một sự thật hiển nhiên. Tuy nhiên, trong giới sử học, một số nghi vấn vẫn được đặt ra về đời Hồng Bàng.

  1. Có đời Hồng Bàng hay không? Có người cho rằng di tích lịch sử chưa chứng minh được sự hiện hữu của một chế độ cai trị như sử vẫn chép về đời Hồng Bàng. Người khác cho rằng sự hiện diện của trống đồng có tuổi vào những năm 200-300 TCN, nếu chưa chứng minh được đời Hồng Bàng, cũng đủ để không bác bỏ những điều sử cũ chép về đời Hồng Bàng.
  2. Có phải đời Hồng Bàng là sản phẩm tưởng tượng của một sử gia thế kỷ 14? Người đặt nghi vấn này dựa trên việc sử cổ không viết về đời Hồng Bàng: Đại Việt Sử Ký (1272) của Lê Văn Hưu không chép gì về đời Hồng Bàng mà bắt đầu từ đời Triệu Vũ Vương. An Nam Chí Lược của Lê Tắc, viết tại Trung Hoa khoảng 1335, cũng không viết gì về đời Hồng Bàng mặc dù có nói nước An Nam đã giao thiệp với Trung Hoa từ thời Nghiêu Thuấn. Phải đến khoảng 1377, trong Việt Sử Lược, một cuốn sách không rõ tác giả, mới có nhắc sơ qua đến đời Hồng Bàng. Truyền thuyết Kinh Dương Vương được ghi lại lần đầu là do Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư năm 1479. Trong Việt Sử Tiêu Án (1775), Ngô Thì Sĩ đặt nghi vấn về Kinh Dương Vương, Xích Quỷ, và nhiều truyền thuyết liên quan.
  3. Niên đại của đời Hồng Bàng có bắt đầu từ 2879 trước Tây lịch? Sử gia đặt nghi vấn này (như Trần Trọng Kim) tính từ con số truyền thuyết về vua Kinh Dương Vương (2879 trước CN), qua Lạc Long Quân và 18 vua Hùng (kết thúc 257 TCN), tính ra 2622 năm cho 20 ông vua, trung bình mỗi người 121 năm. Nhiều người chấp nhận niên đại khoảng 600 TCN là năm bắt đầu đời Hồng Bàng vì Việt Sử Lược ghi rằng nước Văn Lang bắt đầu từ đời vua Chu Trang Vương (696-682 TCN).
  4. Tuy nhiên cũng có những giả thuyết nghi vấn về một quốc gia cổ là Việt Thường, Cổ sữ Trung Hoa có chép: vào thời Chu Thành Vương (1042 TCN-1021 TCN) có người ở Việt Thường đến dâng chim trĩ Trắng. Có thể đặt ra giả thiết Văn Lang là nhà nước kế tục Việt Thường, khi Văn Lang thay thế Việt Thường đã đặt tên Việt Thường làm một trong 15 bộ của mình. Cả Văn Lang và Việt Thường đều thuộc thời đại Hồng Bàng, tên nước thì có thể đặt từ khi thành lập để gọi nhưng tên thời đại Hồng Bàng thì chắc chắn sau này các sử gia tự đặt cho dễ sắp xếp và theo dõi.
  5. Nói về niên đại đầu đời Hồng Bàng (2879 TCN) ở Việt Nam cũng giống như giả thuyết về quốc gia cổ Gojoseon trong lịch sử Triều Tiên (Triều Tiên này không phải là Bắc Hàn ngay nay, mà là bán đảo Triều Tiên) được Dangun thành lập năm 2333 TCN và suy tàn vào khoảng thế kỷ 3 TCN và vương quốc này hiện nay cũng được chứng minh chỉ thực sự hình thành ở thế kỷ 5 TCN (tương tự Văn Lang).
  6. Một vấn đề khác là họ Hùng: Các sử gia cho rằng, người Việt cổ tới tận thời Hai Bà Trưng vẫn chưa có họ. Theo sách Lịch sử Việt Nam, tập 1 của Viện Sử học Việt Nam, chữ “Hùng” trong “Hùng Vương” thực ra là lấy từ tên các vua nước Sở, một nước chư hầu thời nhà Chu của Trung Hoa. Các vua Sở đều có tên mang chữ Hùng như: Hùng Thông (Sở Vũ vương), Hùng Vận (Sở Thành vương), Hùng Hòe (Sở Hoài vương)… Tổ tiên nước Sở vốn có tên là Hùng Dịch. Bởi Bách Việt ở gần nước Sở của Trung Hoa nhất nên những người Việt đã lấy theo tên các vua nước này. Mặt khác, người Việt ở Việt Nam còn tự gọi là người Kinh, mà chữ “Kinh” vốn xuất phát từ vùng Kinh Châu, sông Kinh mà nước Sở cai quản. Như vậy Hùng Vương nói riêng và Hồng Bàng nói chung, với nhiều tình tiết lịch sử pha lẫn truyền thuyết, có thể còn là sản phẩm pha trộn của người Việt gốc và người Việt lai Hán – người Kinh sau này[3].
  7. Giả thiết khác đặt ra về họ của các vua Hùng là họ Lạc theo họ của Lạc Long Quân và Hùng Vương chỉ là họ. Biểu hiện là những chức danh-tên gọi như Lạc Hầu, Lạc Tướng (quan giúp việc), Lạc Dân (dân đen), Lạc Điền (đất ruộng)…
  8. Một số thần phả còn ghi chép rõ thụy hiệu của các vua Hùng (như Hùng Hy vương, Hùng Duệ vương…) nhưng các nhà nghiên cứu không cho rằng đó là đáng tin. Mặt khác, lại có thuyết tính Kinh Dương Vương là Hùng Vương đầu tiên và Lạc Long Quân là Hùng vương thứ hai, sau đó chỉ có 16 Hùng Vương là hết thời Hồng Bàng.

          Lãnh thổ

  1. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Lĩnh Nam Chích Quái, tên 15 bộ của Văn Lang không được thuyết phục vì tên các bộ trên phần lớn là tên Hán-Việt chỉ có sau khi lệ thuộc nhà Hán. Chỉ có tên 2 bộ được sử cũ Trung Hoa ghi chép có trước khi văn hóa Hán xâm nhập là Việt Thường (thời vua Chu Thành Vương) và Gia Ninh (thời vua Chu Trang Vương). Theo như nhận định thì bộ Việt Thường ở cực nam Văn Lang tức vùng Hà Tĩnh ngày nay, còn bộ Gia Ninh ở Phú Thọ ngày nay
  2. Về dân số đến đầu CN trên khu vực Giao Chỉ, Cửu Chân chưa đến 1 triệu người. Vậy trước đó hàng trăm năm thời Hùng Vương dân số còn ít hơn nữa, chắc chỉ vài trăm nghìn người là tối đa, chỉ tương đương với dân số tỉnh Điện Biên (500 nghìn) hoặc Lào Cai (560 nghìn) ngày nay, với dân cư như trên thì Văn Lang không thể là một quốc gia rộng như miêu tả của Lĩnh Nam Chích Quái được.(Trước đây vùng Bắc Mỹ -Gia nã đại và Hoa kỳ- có nhiều bộ lạc của người da đỏ, mà mỗi bộ lạc chỉ có vài chục người cho đến hai, ba trăm người là nhiều. Vậy thuyết, “ít dân số không thể tản mác trên một diện tích rộng lớn” cũng không có được tính thuyết phục)
  3. Về lãnh thổ, phía bắc thì không biết ở đâu nhưng chắc chắn ở phía nam lãnh thổ Văn Lang chỉ đến đèo Ngang vì khi An Dương Vương chiếm Văn Lang chia đất của Vua Hùng ra làm 2 bộ tương ứng với đất Giao Chỉ và Cửu Chân thời Hán. Và bộ Việt Thường chính là phần đất cực Nam của Văn Lang – tương ứng với Hà Tĩnh ngày nay.

            Tạm khép lại dòng chảy truyền thuyết tôi cùng các bạn đạo dưới sự chỉ đường về mặt tâm linh của Mẫu tìm đến Hồ Động Đình. Từ Hà nội thân thương chúng tôi đặt chân đến Quảng Châu trung tâm thương mại sầm uất bậc nhất tỉnh Quảng Đông. Từ Guangzhou chúng tôi đi tầu điện cao tốc tới Changsha sau đó chuyển tàu đi YueYang như bản đồ đường đi đã được định ra trước.

                             

               Đua thuyền rồng một trong những hình ảnh mà chúng tôi được nhìn thấy khi đến Yue yang

   

    Chúng tôi đến Yueyang đã  là 20h tối sau khi di chuyển hơn 6 tiếng đồng hồ mệt lả vì đói trên tàu cao tốc từ guangzhou với vận tốc cực đại 315km/h. Việc đầu tiên là tìm và thuê chỗ tá túc đã, tôi với vốn tiếng Trung tay chân đỡ mồm miệng sau một hồi với anh tài xế đã tìm được chỗ chú chân như ý. Ăn tối rồi tính tiếp -món ăn gì bây giờ nhỉ khi các bạn tôi đều là người không quen khẩu vị món lạ: Lẩu cá là quyết định sau một hồi thực đơn  bằng mắt. Bàn chúng tôi được may mắn ngồi vào chiếc bàn duy nhất có in hình rồng chầu ( kiến trúc đậm nét Nhạc Dương – Long Vương) sau quãng đường hơn 2000 km  nên chúng tôi ăn qua quít rồi đii nghỉ để mai tiếp tục hành trình.

 

  Sáng ngày thứ hai của chuyến đi tôi tỉnh giấc khi ánh sáng ngày mới vén lên qua khung cửa sổ – úi chà một biển hồ nhưng không hẳn là thế một bức tường thành cổ với kiến trúc phong kiến độc đáo. Đây là đâu nhỉ vì là lần đầu đến nên tôi băn khoăn tự hỏi mình, mà biết hỏi ai bây giờ khi mà lục nát cả đầu tôi với vốn từ vựng ít ỏi cũng không thể diễn đạt với người bản xứ đi tìm đền thờ Vua Cha Bát Hải. Nhưng bất ngờ đã đến lần thứ hai trong chuyến đi tôi gặp may mắn, mà không phải thế chứ vận may sao lại nhiều như vậy hay là có sự dẫn đường chỉ lối của thế giới siêu nhiên ( chiều hôm sau tôi mới biết khách sạn chúng tôi nằm ở đối diện với Nhạc Dương Lầu và ở chỗ cửa sổ đó có thể nhìn bao quát toàn cảnh Nhạc Dương và Hồ Động Đình)  

                   

                                                          Một buổi sáng bên góc Lầu Nhạc Dương

           

Đoàn chúng tôi bắt đầu hiếu kỳ khám phá chuyến đi, ăn sáng để có đủ năng lượng cho một ngày du ngoạn.

 

                                  Bánh tráng một trong những món phổ biến ở Nhạc Dương

                                       Đặc sản Đậu phụ thối, món ăn không thể không thưởng thức

 

                                     

                       Kiến trúc đặc trưng của Nhạc Dương sử dụng chất liệu gỗ bao quanh mặt ngoài khu nhà

Thời tiết hà nội và quảng châu đầu hạ với nhiệt độ trung bình 30 độ C, chúng tôi hoan hỉ với không khí ấm nóng chưa được bao lâu thì khi đặt chân đến Nhạc Dương nhiệt độ hạ xuống 13 độ và hôm sau xuống 9 độ. Chúng tôi mặc hết những gì có thể mang lên mình được nhưng cũng không xua đi cái lạnh đột ngột  mà mùa đông chúng tôi vẫn thường gặp. Cuối cùng chúng tôi may mắn tìm thấy  cửa hàng bán đồ lao động tự chọn lấy 4 chiếc áo bông màu xanh bộ đội.

            Việc đầu tiên chúng tôi tìm đường đến đền thờ Vua Cha ở trên  Đảo Quân Sơn (Junshan, 君山).

  Có hai cách đi ra đảo: đi tàu thủy và đi đường bộ. Gió to và sóng ghập ghềnh nên chúng tôi đi taxi qua cây cầu mới xây ra đảo. Đảo Quân Sơn nguyên gốc gọi là núi  Động Đình hay Tương Sơn (Xiangshan). Đảo cách thị trấn Lạc Dương bên bờ khoàng 13 km, chiều rộng 1 km, có 72 đỉnh núi, 36 đình quán và 48 đền. Phong cảnh ở đây đi cùng với hồ thật thần tiên như chốn bồng lai tiên cảnh, đã nổi danh hàng ngàn năm nay. Tương truyền rằng ngày xưa có tiên xuất hiện ở đây. Cảnh sắc thay đổi theo bốn mùa. Về mùa xuân hoa cỏ muôn mầu muôn sắc. Mùa hạ, trời quang mây tạnh là lùc thấy rõ toàn cảnh hồ. Mùa thu khói sương huyền ảo như chốn thiên thai. Đêm đêm văng vẳng vọng lại tiếng hát câu hò của người dân chài trong thinh lặng. Mùa đông là lúc những loài di điểu trở về…

  Đền thờ Vua cha nằm trong khu danh lam bảo tồn, ngoài cửa có một bài thơ của thi tiên Lý Bạch được khắc lên bức tường đá  ở đây:

                                       

 

           

 

                                                                 Cổng vào khu Quân Sơn

                                                                     Nơi Thờ Long Vương

 Ở những chốn tâm linh như nơi đây rất khó có thể chụp ảnh phía bên trong. Kinh nghiệm từ những lần đi trước tôi cất máy vào balo thành tâm thắp hương, công đức cùng đoàn, đứng trật tự ngắm nhìn kiến trúc. Đợi thời cơ vắng khách ra cầu xin với Pháp sư, các vị thủ đền xin chụp ảnh làm tư liệu. May mắn tôi cũng ghi lại được kiến trúc bên trong đền.

 

                                                            Ảnh Long Vương ngày gặp lại Con Gái

                 Mong muốn nhất là tôi tự chụp được tượng thờ Long Vương đó cũng là tâm đắc cả chuyến đi này

                                             Xin phép Vua cha Bát hải Động đình Hưng tế Long cung

                                         Tượng Thích Ca Mâu Ni Phật cũng được thờ ở đây

                                               Hộ Pháp Thiện Thần Thiên Long Bát Bộ ở hai bên

                                                               

                                                            Quan Vân Trường biểu tượng Thần Tài.

                                           Năm Trăm vị La Hán được thờ bên  lối đi ra Hậu Cung

   

    Chúng tôi tiếp tục sang thăm quan ngôi đền kế tiếp. Lần này kinh nghiêm vào đền đã được cập nhập nên chúng tôi có vẻ đi dễ dàng hơn.

           

     Đền Tưởng Niệm Tương Phi ngày xưa gọi là Đền Tương Sơn. Đền được xây cất đầu tiên vào thời Chiến Quốc để thờ vị thần ở Quân Sơn và sông Tương.  Theo truyền thuyết kể lại thì vua Thuấn (Shun,舜) đi tuần thú và bị bệnh chết ở đây, rồi hai nàng ái phi là Nga Hoàng- 娥皇và Nữ Anh-女英 đi tìm và cũng chết nơi đây và được chôn cất nơi này. Sau nầy Khuất Nguyên- 屈原 làm thơ gọi là Tương Quân (Xiangjun 湘君) và Tương Phu Nhân- (Xiang Furen, 湘夫人). Tương Quân lại được cho là “thần sông” của Sông Tương, Tương Phi – 湘妃 là chỉ chung hai nàng ái phi của Vua Thuấn vì đi tìm chồng, đến ngày hẹn “hội ngộ” tại đây mà không gặp rồi mòn mỏi chờ ngã bệnh mà chết theo chồng.

Vì vậy nên từ đời nhà Đường đền được đổi tên là Đền Tưởng Niệm Tương Phi. Đền được trùng tu lại vào đời vua Jia Qing triều nhà Thanh.

                                                        Ảnh chụp gian giữa của đền Tương Phi

                       

                                                Tượng thờ hai nàng ái phi là Nga Hoàng- 娥皇và Nữ Anh-女英

             Ra khỏi đền thờ hai nàng ái phi, chúng tôi đi qua rừng trồng tre rất có quy hoạch. Tre mọc ở đây rất lạ trên thân có một đốm đặc biệt. Loại tre này tôi chỉ biết có nguồn gốc ở đây. Tương truyền rằng sau khi nghe vua Thuấn chết hai bà vương phi ôm thân tre khóc thương thảm thiết. Nước mắt của hai bà nhỏ xuống thân tre biến thành đốm hình giọt nước mắt. Vì thế tre này còn được gọi là Tương Phi trúc hay Tương trúc.

Tôi đứng sững sờ trước vườn trúc lòng đầy chắc ẩn xem ra có khá nhiều điều tôi còn chưa được biết.

 

                                                                       Hồ Ái Ân

                                                 

                                                                      Đền Nguyệt Lão nằm bên hồ ái ân.

.

                                                                                                        Phối thất chi tế, vạn phúc chi nguyên

                                                                                                    (Việc hôn nhân là nguồn gốc của muôn hạnh phúc)

 

    Theo Điển tích xưa thì Tơ hồng Nguyệt Lão là vị thần cai quản về chuyện tình duyên hôn nhân nam nữ. Theo sách U quái lục có ghi lại một sự tích sau “Đời đường (618-907), Điền Vi Cố là khách trọ ở Tống Thành đi kén vợ. Một đêm nọ gặp một ông lão vai mang một cái túi to ngồi hướng về phía mặt trăng xem sách. Vi cố liền đến hỏi sách gì? Ông lão đáp: Đó là quyển sổ biên tên tuổi từng cặp vợ chồng. Vi Cố lại hỏi thế cái túi to kia đựng vật gì. Ông lão đáp: Đó là túi đựng dây tơ hồng dùng để buộc chân hai người có duyên với nhau. Thấy thế Vi Cố liền hỏi. Vậy ông có biết tôi lấy con gái nhà ai không? Ông lão bèn xem sổ một lúc rồi nói: Vợ anh là con gái họ Vương mới lên 3 tuổi và Vi Cố thấy hình ảnh cố bé do một người phụ nữ chột một mắt ãm đang đi giữa chợ. Ông lão lại chỉ đứa bé và bảo nó chính vợ của anh. Thấy vậy Vi Cố nghĩ rằng minh là người gia thế như thế này mà số lại phải lấy một đứa bé gái con nhà bình dân nghèo khó thì giận quá liền bảo đầy tớ hôm sau tìm đứa bé đó giết đi. Người đầy tớ hôm sau ra chợ tìm thấy đứa bé như được Vi Cố tả do một người

*      Thái Mỹ Thần Chủ

*        Danh Cần Mẫu Thương Thần Chủ

phụ nữ chột mắt đang bế đi giữa chợ liền lẻn đến đâm đứa bé một nhát vào giữa mặt rồi bỏ trốn. Mười bốn năm sau quan Thái Sử Trương châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Cô tiểu thư xinh đẹp, giữa ông mày có đính trang điểmmột bông hoa vàng trông càng duyên dáng.  Trong đêm tân hôn Vi Cố chỉ vào bông hoa khen và hỏi vợ sao lại đính bông hoa vào chỗ đó, cô dâu họ Vương mới bảo: Thủa còn bé, một bà vú nuôi họ bế vào chợ bị một đứa cuồng tặc lẻn đến đâm một nhát may số thiếp mệnh lớn nên không chết nhưng có để lại một vết sẹo đó. Vi Cố giật mình hỏi:Có phải bà vú đó họ Trần bị chột một mắt không? Người vợ ngạc nhiên xác nhận: Đúng thế! Vi Cố lúc ấy mới vỡ lẽ về nhân duyên tiền định liền kể lại toàn bộ sự việc trước đó cho người vợ nghe”.

Hôn nhân: Theo Thuyết văn và Lễ ký thì “Hôn” có nghĩa là buổi chiều, khi cưới vợ người ta thường rước dâu vào buổi chiều nên gọi là Hôn. Còn “Nhân” là người chồng tức là chú rể, người vợ theo lễ cưới mà về nhà chồng để ở thì gọi là “Nhân”. Vì thế hai từ Hôn Nhân được ghép chung với nhau để diễn tả sự kết hợp chung sống của đôi trai gái, mà vị thần Hôn Nhân chính là Tơ Hồng Nguyệt Lão

                                                                 Tượng thờ Nguyệt lão

                                                       

                                                 Ổ Khóa Tình Yêu nằm khuôn viên đền Nguyệt Lão

                                                                                           

                                                                               Đường vào vườn Tình Ái

                                                                               

                                                                          Giếng Dãi Rồng

                                                                      ảnh Con gái Long Vương chăn cừu và Liễu Nghị

                                                                     

                                                                                  Đường xuống thủy cung

   Điểm dừng chân cuối ở Đảo Quân sơn là Giếng Liễu Nghị. Lại nói về truyền thuyết kể rằng một sĩ tử ở Hồ Nam tên là Liu Mingying trên đường về thủ đô đi thi gặp nàng con gái Long Vương. Nàng bị một người giầu có tên là Jin Baiwan hành hạ bắt đi chăn cừu. Liu giúp nàng. Nàng chỉ cho Liêu dùng giếng Cây Cam xuống gặp Long Vương và đưa thư của nàng cho Long Vương. Long Vương cứu con gái và nhận chết chìm Jin Baiwan. Về sau Liu lấy con gái Long Vương. Câu chuyện về sau được Li Zhaowei viết thành truyền thuyết và phổ biến rộng dãi trong dân gian, trở thành một trong sáu câu chuyện dân gian nổi tiếng của Trung Hoa. Tới thời nhà Tống, giếng được đổi tên là Giếng Liễu Nghị. Ngày nay được xem là một di sản văn hóa.

 

Tạm biệt Đảo Quân Sơn chúng tôi lên xe buýt đi về trung tâm thánh phố nghỉ lấy sức cho chuyến đi ngày mai.

 

 

Catru vietnam

 

 

 
Để lại phản hồi

Posted by on 1 Tháng Năm, 2013 in Khác

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.